TTC 1—Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một số đông chư Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến chỗ Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, đứng một bên, các Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Bạch Thế Tôn, chúng con đã đứng dậy, nhưng chúng con không đảnh lễ. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh với thân hạ liệt”.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, nhưng con không mời ghế ngồi. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh với thân hạ liệt”.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, chúng con đã mời ghế ngồi nhưng chúng con không chia xẻ (đồ ăn) tùy theo khả năng và sức lực của chúng con… Chúng con chia xẻ (đồ ăn), tùy theo khả năng và sức lực của chúng con, nhưng chúng con không ngồi xung quanh để nghe pháp… chúng con có ngồi xung quanh để nghe pháp, nhưng chúng con không lóng tai nghe pháp… chúng con lóng tai nghe pháp, nhưng chúng con sau khi nghe không có thọ trì pháp… chúng con sau khi nghe, có thọ trì pháp, nhưng không có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì… chúng con có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, nhưng chúng con sau khi biết nghĩa, biết pháp, không thực hành pháp và tùy pháp. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh ra với thân hạ liệt”.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời gian quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Bạch Thế Tôn, chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, chúng con đã mời ghế ngồi, chúng con đã chia xẻ (đồ ăn) tùy theo khả năng và sức lực của chúng con, chúng con đã ngồi xung quanh để nghe pháp, chúng con lóng tai nghe pháp, chúng con sau khi nghe thọ trì pháp, chúng con có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, chúng con sau khi biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp và tùy pháp. Bạch Thế Tôn, do chúng con làm đầy đủ bổn phận, chúng con không sanh hối hận, phiền não, vì được sanh với thân thù thắng”.
Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Này các Tỷ-kheo, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau, như các Thiên nhân đã được nói đến trước đây.
“Imañca, bhikkhave, rattiṁ sambahulā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, tā devatā maṁ etadavocuṁ:
‘upasaṅkamiṁsu no, bhante, pubbe manussabhūtānaṁ pabbajitā agārāni.
Te mayaṁ, bhante, paccuṭṭhimha, no ca kho abhivādimha.
Tā mayaṁ, bhante, aparipuṇṇakammantā vippaṭisāriniyo paccānutāpiniyo hīnaṁ kāyaṁ upapannā’ti.
Aparāpi maṁ, bhikkhave, sambahulā devatā upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘upasaṅkamiṁsu no, bhante, pubbe manussabhūtānaṁ pabbajitā agārāni.
Te mayaṁ, bhante, paccuṭṭhimha abhivādimha, no ca tesaṁ āsanaṁ adamha.
Tā mayaṁ, bhante, aparipuṇṇakammantā vippaṭisāriniyo paccānutāpiniyo hīnaṁ kāyaṁ upapannā’ti.
Aparāpi maṁ, bhikkhave, sambahulā devatā upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘upasaṅkamiṁsu no, bhante, pubbe manussabhūtānaṁ pabbajitā agārāni.
Te mayaṁ, bhante, paccuṭṭhimha abhivādimha āsanaṁ adamha, no ca kho yathāsatti yathābalaṁ saṁvibhajimha …pe…
yathāsatti yathābalaṁ saṁvibhajimha, no ca kho upanisīdimha dhammassavanāya …pe…
upanisīdimha dhammassavanāya, no ca kho ohitasotā dhammaṁ suṇimha …pe…
ohitasotā ca dhammaṁ suṇimha, no ca kho sutvā dhammaṁ dhārayimha …pe…
sutvā ca dhammaṁ dhārayimha, no ca kho dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhimha …pe…
dhātānañca dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhimha, no ca kho atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammaṁ paṭipajjimha.
Tā mayaṁ, bhante, aparipuṇṇakammantā vippaṭisāriniyo paccānutāpiniyo hīnaṁ kāyaṁ upapannā’ti.
Aparāpi maṁ, bhikkhave, sambahulā devatā upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘upasaṅkamiṁsu no, bhante, pubbe manussabhūtānaṁ pabbajitā agārāni.
Te mayaṁ, bhante, paccuṭṭhimha abhivādimha, āsanaṁ adamha, yathāsatti yathābalaṁ saṁvibhajimha, upanisīdimha dhammassavanāya, ohitasotā ca dhammaṁ suṇimha, sutvā ca dhammaṁ dhārayimha, dhātānañca dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhimha, atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammaṁ paṭipajjimha.
Tā mayaṁ, bhante, paripuṇṇakammantā avippaṭisāriniyo apaccānutāpiniyo paṇītaṁ kāyaṁ upapannā’ti.
Etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni etāni suññāgārāni. Jhāyatha, bhikkhave, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha seyyathāpi tā purimikā devatā”ti.
Navamaṁ.
“Mendicants, tonight, several glorious deities, lighting up the entire Jeta’s Grove, came to me, bowed, stood to one side, and said to me:
‘Sir, formerly when we were human beings, renunciates came to our homes.
We politely rose for them, but we didn’t bow.
And so, having not fulfilled our duty, full of remorse and regret, we were reborn in a lesser realm.’
Then several other deities came to me and said:
‘Sir, formerly when we were human beings, renunciates came to our homes.
We politely rose for them and bowed, but we didn’t offer a seat.
And so, having not fulfilled our duty, full of remorse and regret, we were reborn in a lesser realm.’
Then several other deities came to me and said:
‘Sir, formerly when we were human beings, renunciates came to our homes.
We politely rose for them, bowed, and offered a seat, but we didn’t share as best we could. …’
‘… we didn’t sit nearby to listen to the teachings. …’
‘… we didn’t actively listen to the teachings. …’
‘… we didn’t memorize the teachings. …’
‘… we didn’t examine the meaning of teachings we’d memorized. …’
‘… not having understood the meaning and the teaching, we didn’t practice in line with the teaching.
And so, having not fulfilled our duty, full of remorse and regret, we were reborn in a lesser realm.’
Then several other deities came to me and said:
‘Sir, formerly when we were human beings, renunciates came to our homes.
We politely rose, bowed, and offered them a seat. We shared as best we could. We sat nearby to listen to the teachings, lent an ear, memorized them, and examined their meaning. Understanding the teaching and the meaning we practiced in line with the teaching.
And so, having fulfilled our duty, free of remorse and regret, we were reborn in a superior realm.’
Here, mendicants, are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, mendicants! Don’t be negligent! Don’t regret it later, like those former deities.”
TTC 1—Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một số đông chư Thiên, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến chỗ Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Này các Tỷ-kheo, đứng một bên, các Thiên nhân ấy thưa với Ta: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Bạch Thế Tôn, chúng con đã đứng dậy, nhưng chúng con không đảnh lễ. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh với thân hạ liệt”.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, nhưng con không mời ghế ngồi. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh với thân hạ liệt”.
TTC 3Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, chúng con đã mời ghế ngồi nhưng chúng con không chia xẻ (đồ ăn) tùy theo khả năng và sức lực của chúng con… Chúng con chia xẻ (đồ ăn), tùy theo khả năng và sức lực của chúng con, nhưng chúng con không ngồi xung quanh để nghe pháp… chúng con có ngồi xung quanh để nghe pháp, nhưng chúng con không lóng tai nghe pháp… chúng con lóng tai nghe pháp, nhưng chúng con sau khi nghe không có thọ trì pháp… chúng con sau khi nghe, có thọ trì pháp, nhưng không có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì… chúng con có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, nhưng chúng con sau khi biết nghĩa, biết pháp, không thực hành pháp và tùy pháp. Bạch Thế Tôn, do không làm đầy đủ bổn phận, chúng con sanh ra hối hận, phiền não, vì bị sanh ra với thân hạ liệt”.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, lại có nhiều chư Thiên khác đến chỗ Ta và thưa như sau: “Bạch Thế Tôn, khi chúng con sống giữa loài Người, trong thời gian quá khứ, các vị xuất gia không có gia đình đến chúng con. Bạch Thế Tôn, chúng con đã đứng dậy, chúng con đã đảnh lễ, chúng con đã mời ghế ngồi, chúng con đã chia xẻ (đồ ăn) tùy theo khả năng và sức lực của chúng con, chúng con đã ngồi xung quanh để nghe pháp, chúng con lóng tai nghe pháp, chúng con sau khi nghe thọ trì pháp, chúng con có suy tư ý nghĩa các pháp đã được thọ trì, chúng con sau khi biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp và tùy pháp. Bạch Thế Tôn, do chúng con làm đầy đủ bổn phận, chúng con không sanh hối hận, phiền não, vì được sanh với thân thù thắng”.
Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những ngôi nhà trống. Này các Tỷ-kheo, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối tiếc về sau, như các Thiên nhân đã được nói đến trước đây.
“Imañca, bhikkhave, rattiṁ sambahulā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhikkhave, tā devatā maṁ etadavocuṁ:
‘upasaṅkamiṁsu no, bhante, pubbe manussabhūtānaṁ pabbajitā agārāni.
Te mayaṁ, bhante, paccuṭṭhimha, no ca kho abhivādimha.
Tā mayaṁ, bhante, aparipuṇṇakammantā vippaṭisāriniyo paccānutāpiniyo hīnaṁ kāyaṁ upapannā’ti.
Aparāpi maṁ, bhikkhave, sambahulā devatā upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘upasaṅkamiṁsu no, bhante, pubbe manussabhūtānaṁ pabbajitā agārāni.
Te mayaṁ, bhante, paccuṭṭhimha abhivādimha, no ca tesaṁ āsanaṁ adamha.
Tā mayaṁ, bhante, aparipuṇṇakammantā vippaṭisāriniyo paccānutāpiniyo hīnaṁ kāyaṁ upapannā’ti.
Aparāpi maṁ, bhikkhave, sambahulā devatā upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘upasaṅkamiṁsu no, bhante, pubbe manussabhūtānaṁ pabbajitā agārāni.
Te mayaṁ, bhante, paccuṭṭhimha abhivādimha āsanaṁ adamha, no ca kho yathāsatti yathābalaṁ saṁvibhajimha …pe…
yathāsatti yathābalaṁ saṁvibhajimha, no ca kho upanisīdimha dhammassavanāya …pe…
upanisīdimha dhammassavanāya, no ca kho ohitasotā dhammaṁ suṇimha …pe…
ohitasotā ca dhammaṁ suṇimha, no ca kho sutvā dhammaṁ dhārayimha …pe…
sutvā ca dhammaṁ dhārayimha, no ca kho dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhimha …pe…
dhātānañca dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhimha, no ca kho atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammaṁ paṭipajjimha.
Tā mayaṁ, bhante, aparipuṇṇakammantā vippaṭisāriniyo paccānutāpiniyo hīnaṁ kāyaṁ upapannā’ti.
Aparāpi maṁ, bhikkhave, sambahulā devatā upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘upasaṅkamiṁsu no, bhante, pubbe manussabhūtānaṁ pabbajitā agārāni.
Te mayaṁ, bhante, paccuṭṭhimha abhivādimha, āsanaṁ adamha, yathāsatti yathābalaṁ saṁvibhajimha, upanisīdimha dhammassavanāya, ohitasotā ca dhammaṁ suṇimha, sutvā ca dhammaṁ dhārayimha, dhātānañca dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhimha, atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammaṁ paṭipajjimha.
Tā mayaṁ, bhante, paripuṇṇakammantā avippaṭisāriniyo apaccānutāpiniyo paṇītaṁ kāyaṁ upapannā’ti.
Etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni etāni suññāgārāni. Jhāyatha, bhikkhave, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha seyyathāpi tā purimikā devatā”ti.
Navamaṁ.