TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tại Ðại Lâm, chỗ giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Vesàlì để khất thực.
Lúc bấy giờ, khoảng 500 người Licchavì đang ngồi tụ họp tài đền Sàrandada, và câu chuyện sau đây được khởi lên:
TTC 2“Sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?
Sự hiện hữu của voi báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngựa báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngọc báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của nữ báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của cư sĩ báu khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này khó tìm được ở đời”.
TTC 3Rồi các người Licchavì ấy đặt một người ở trên đường và nói:
—Này Bạn, khi nào Bạn thấy Thế Tôn đi đến, hãy báo cho chúng tôi biết.
Người ấy thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy, liền đi đến các người Licchavì và nói:
—Thưa Quý vị, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy đã đến. Nay Quý vị hãy làm những gì Quý vị nghĩ là hợp thời!
Rồi các người Licchavì ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, các người Licchavì ấy bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến đền Sàrandada vì lòng thương tưởng chúng con!
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến đền Sàrandada, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các người Licchavì ấy:
—Này các Licchavì, hôm nay các Ông ngồi tụ họp, nói đến vấn đề gì? Và vấn đền gì giữa các Ông đã bị gián đoạn?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con đang ngồi tụ họp, vấn đề này được khởi lên: “Sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm? Sự hiện hữu của voi báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngựa báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngọc báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của nữ báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của cư sĩ báu khó tìm được ở đời. Sự hiện hữu của năm châu báu này khó tìm được ở đời!”.
TTC 4—Ðối với các Ông, người Licchavì đang thiên nặng về dục, cuộc nói chuyện y cứ trên đục được khởi lên. Này các Licchavì, sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm?
Sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời. Hạng người có thể thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người hiểu được lời thuyết giảng về Pháp là Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người đem thực hành các pháp và tùy pháp được hiểu từ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người biết ơn, và nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi.
Tena kho pana samayena pañcamattānaṁ licchavisatānaṁ sārandade cetiye sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
“pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Hatthiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, assaratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, maṇiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, itthiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, gahapatiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Imesaṁ pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmin”ti.
Atha kho te licchavī magge purisaṁ ṭhapesuṁ:
“yadā tvaṁ, ambho purisa, passeyyāsi bhagavantaṁ, atha amhākaṁ āroceyyāsī”ti.
Addasā kho so puriso bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ;
disvāna yena te licchavī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te licchavī etadavoca:
“ayaṁ so, bhante, bhagavā gacchati arahaṁ sammāsambuddho;
yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
Atha kho te licchavī yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho te licchavī bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Sādhu, bhante, yena sārandadaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā yena sārandadaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā te licchavī etadavoca:
“kāya nuttha, licchavī, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
‘pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Hatthiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, assaratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, maṇiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, itthiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, gahapatiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Imesaṁ pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmin’”ti.
“Kāmādhimuttānaṁ vata bho licchavīnaṁ kāmaṁyeva ārabbha antarākathā udapādi.
Pañcannaṁ, licchavī, ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ,
tathāgatappaveditassa dhammavinayassa desetā puggalo dullabho lokasmiṁ,
tathāgatappaveditassa dhammavinayassa desitassa viññātā puggalo dullabho lokasmiṁ,
tathāgatappaveditassa dhammavinayassa desitassa viññātā dhammānudhammappaṭipanno puggalo dullabho lokasmiṁ,
kataññū katavedī puggalo dullabho lokasmiṁ.
Imesaṁ kho, licchavī, pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmin”ti.
Tatiyaṁ.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Vesālī for alms.
Now at that time around five hundred Licchavis were sitting together at the Sārandada Shrine, and this discussion came up among them,
“The appearance of five treasures is rare in the world.
What five?
The elephant-treasure, the horse-treasure, the jewel-treasure, the woman-treasure, and the householder-treasure.
The appearance of these five treasures is rare in the world.”
Then those Licchavis sent a man out on to the road, saying,
“My friend, please tell us when you see the Buddha.”
That man saw the Buddha coming off in the distance.
He went to the Licchavis and said,
“Sirs, the Blessed One, the perfected one, the fully awakened Buddha is coming.
Please go at your convenience.”
Then those Licchavis went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him,
“Please go to the Sārandada Shrine, out of sympathy.”
The Buddha consented with silence.
Then the Buddha went up to the Sārandada Shrine, where he sat on the seat spread out, and said to the Licchavis,
“Licchavis, what were you sitting talking about just now? What conversation was left unfinished?”
“Well, worthy Gotama, this discussion came up among us while we were sitting together:
‘The appearance of five treasures is rare in the world. …’”
“You Licchavis are so fixated on sensual pleasures, that’s the only discussion that came up!
Licchavis, the appearance of five treasures is rare in the world.
What five?
The appearance of a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha.
A teacher of the teaching and training proclaimed by a Realized One.
An individual who understands the teaching and training proclaimed by a Realized One.
An individual who practices in line with the teaching.
An individual who is grateful and thankful.
The appearance of these five treasures is rare in the world.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàlì, tại Ðại Lâm, chỗ giảng đường có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Vesàlì để khất thực.
Lúc bấy giờ, khoảng 500 người Licchavì đang ngồi tụ họp tài đền Sàrandada, và câu chuyện sau đây được khởi lên:
TTC 2“Sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?
Sự hiện hữu của voi báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngựa báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngọc báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của nữ báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của cư sĩ báu khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này khó tìm được ở đời”.
TTC 3Rồi các người Licchavì ấy đặt một người ở trên đường và nói:
—Này Bạn, khi nào Bạn thấy Thế Tôn đi đến, hãy báo cho chúng tôi biết.
Người ấy thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy, liền đi đến các người Licchavì và nói:
—Thưa Quý vị, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy đã đến. Nay Quý vị hãy làm những gì Quý vị nghĩ là hợp thời!
Rồi các người Licchavì ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, các người Licchavì ấy bạch Thế Tôn:
—Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến đền Sàrandada vì lòng thương tưởng chúng con!
Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến đền Sàrandada, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các người Licchavì ấy:
—Này các Licchavì, hôm nay các Ông ngồi tụ họp, nói đến vấn đề gì? Và vấn đền gì giữa các Ông đã bị gián đoạn?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con đang ngồi tụ họp, vấn đề này được khởi lên: “Sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm? Sự hiện hữu của voi báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngựa báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của ngọc báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của nữ báu khó tìm được ở đời; Sự hiện hữu của cư sĩ báu khó tìm được ở đời. Sự hiện hữu của năm châu báu này khó tìm được ở đời!”.
TTC 4—Ðối với các Ông, người Licchavì đang thiên nặng về dục, cuộc nói chuyện y cứ trên đục được khởi lên. Này các Licchavì, sự hiện hữu của năm châu báu khó tìm được ở đời. Và thế nào là năm?
Sự hiện hữu của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời. Hạng người có thể thuyết giảng Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người hiểu được lời thuyết giảng về Pháp là Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người đem thực hành các pháp và tùy pháp được hiểu từ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người biết ơn, và nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Sự hiện hữu của năm châu báu này, này các Licchavì, khó tìm được ở đời.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi.
Tena kho pana samayena pañcamattānaṁ licchavisatānaṁ sārandade cetiye sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
“pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Hatthiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, assaratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, maṇiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, itthiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, gahapatiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Imesaṁ pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmin”ti.
Atha kho te licchavī magge purisaṁ ṭhapesuṁ:
“yadā tvaṁ, ambho purisa, passeyyāsi bhagavantaṁ, atha amhākaṁ āroceyyāsī”ti.
Addasā kho so puriso bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ;
disvāna yena te licchavī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te licchavī etadavoca:
“ayaṁ so, bhante, bhagavā gacchati arahaṁ sammāsambuddho;
yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
Atha kho te licchavī yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho te licchavī bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Sādhu, bhante, yena sārandadaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkamatu anukampaṁ upādāyā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho bhagavā yena sārandadaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā te licchavī etadavoca:
“kāya nuttha, licchavī, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Idha, bhante, amhākaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi:
‘pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Hatthiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, assaratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, maṇiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, itthiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ, gahapatiratanassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Imesaṁ pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmin’”ti.
“Kāmādhimuttānaṁ vata bho licchavīnaṁ kāmaṁyeva ārabbha antarākathā udapādi.
Pañcannaṁ, licchavī, ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmiṁ.
Katamesaṁ pañcannaṁ?
Tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa pātubhāvo dullabho lokasmiṁ,
tathāgatappaveditassa dhammavinayassa desetā puggalo dullabho lokasmiṁ,
tathāgatappaveditassa dhammavinayassa desitassa viññātā puggalo dullabho lokasmiṁ,
tathāgatappaveditassa dhammavinayassa desitassa viññātā dhammānudhammappaṭipanno puggalo dullabho lokasmiṁ,
kataññū katavedī puggalo dullabho lokasmiṁ.
Imesaṁ kho, licchavī, pañcannaṁ ratanānaṁ pātubhāvo dullabho lokasmin”ti.
Tatiyaṁ.