—Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người với trí tuệ lộn ngược? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) thường thường nghe pháp từ các Tỷ-kheo, các vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho người ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, một cái ghè bị lộn ngược, nước chứa trong ấy tuôn chảy, không có dừng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn … không có tác ý đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên … không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ lộn ngược.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn … Người ấy, tại chỗ ngồi ấy … có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy … không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có trí tuệ rộng lớn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) … trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Tại chỗ ngồi ấy, vị ấy đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi vị ấy, từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè được dựng đứng, nước chứa trong ấy được giữ lại, không có chảy đi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ở đây, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) … trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Tại chỗ ngồi ấy, vị ấy đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi vị ấy, từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có trí tuệ rộng lớn.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.
Hạng trí tuệ lộn ngược
Không thông minh, không mắt
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Họ không học được gì,
Họ không có trí tuệ
Hạng trí tuệ bắp vế
Ðược gọi là tốt hơn
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Ngồi trên chỗ mình ngồi
Nắm giữ được lời văn
Ðứng dậy không hiểu rõ
Quên mất điều đã nắm
Bậc trí tuệ rộng lớn
Ðược gọi tốt hơn cả
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Ngồi trên chỗ mình ngồi
Nắm giữ được lời văn
Thọ trì điều được nghe
Suy tư điều tối thắng
Với ý không dao động
Là hạng người như vậy
Thực hành pháp, tùy pháp
Có thể đoạn khổ đau.
“Tayome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Avakujjapañño puggalo, ucchaṅgapañño puggalo, puthupañño puggalo.
Katamo ca, bhikkhave, avakujjapañño puggalo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti;
vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, kumbho nikujjo tatra udakaṁ āsittaṁ vivaṭṭati, no saṇṭhāti;
evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti;
vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, avakujjapañño puggalo.
Katamo ca, bhikkhave, ucchaṅgapañño puggalo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti;
vuṭṭhito ca kho tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, purisassa ucchaṅge nānākhajjakāni ākiṇṇāni—
tilā taṇḍulā modakā badarā.
So tamhā āsanā vuṭṭhahanto satisammosā pakireyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti;
vuṭṭhito ca kho tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ucchaṅgapañño puggalo.
Katamo ca, bhikkhave, puthupañño puggalo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti;
vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, kumbho ukkujjo tatra udakaṁ āsittaṁ saṇṭhāti no vivaṭṭati;
evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti;
vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puthupañño puggalo.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā lokasminti.
Avakujjapañño puriso,
dummedho avicakkhaṇo;
Abhikkhaṇampi ce hoti,
gantā bhikkhūna santike.
Ādiṁ kathāya majjhañca,
pariyosānañca tādiso;
Uggahetuṁ na sakkoti,
paññā hissa na vijjati.
Ucchaṅgapañño puriso,
seyyo etena vuccati;
Abhikkhaṇampi ce hoti,
gantā bhikkhūna santike.
Ādiṁ kathāya majjhañca,
pariyosānañca tādiso;
Nisinno āsane tasmiṁ,
uggahetvāna byañjanaṁ;
Vuṭṭhito nappajānāti,
gahitaṁ hissa mussati.
Puthupañño ca puriso,
seyyo etehi vuccati;
Abhikkhaṇampi ce hoti,
gantā bhikkhūna santike.
Ādiṁ kathāya majjhañca,
pariyosānañca tādiso;
Nisinno āsane tasmiṁ,
uggahetvāna byañjanaṁ.
Dhāreti seṭṭhasaṅkappo,
Abyaggamānaso naro;
Dhammānudhammappaṭipanno,
Dukkhassantakaro siyā”ti.
Dasamaṁ.
Puggalavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Samiddha gilāna saṅkhārā,
bahukārā vajirena ca;
Sevi jiguccha gūthabhāṇī,
andho ca avakujjatāti.
SC 1“Bhikkhus, there are these three kinds of persons found existing in the world. What three? The person with inverted wisdom, the person with lap-like wisdom, and the person with wide wisdom.
SC 2(1) “And what, bhikkhus, is the person with inverted wisdom? Here, some person often goes to the monastery to listen to the Dhamma from the bhikkhus. The bhikkhus teach him the Dhamma that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing; they reveal the perfectly complete and pure spiritual life. While he is sitting in his seat, he does not attend to that talk at the beginning, in the middle, or at the end. After he has risen from his seat, he still does not attend to that talk at the beginning, in the middle, or at the end. Just as, when a pot is turned upside down, the water that had been poured into it runs off and does not remain there, so too, some person often goes to the monastery to listen to the Dhamma from the bhikkhus…. After he has risen from his seat, he still does not attend to that talk at the beginning, in the middle, or at the end. This is called the person with inverted wisdom.
SC 3(2) “And what is the person with lap-like wisdom? Here, some person often goes to the monastery to listen to the Dhamma from the bhikkhus. The bhikkhus teach him the Dhamma that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing; they reveal the perfectly complete and pure spiritual life. While he is sitting in his seat, he attends to that talk at the beginning, in the middle, and at the end. But after he has risen from his seat, he does not attend to that talk at the beginning, in the middle, or at the end. Just as, when a person has various food stuffs strewn over his lap—sesamum seeds, rice grains, cakes, and jujubes—if he loses his mindfulness when rising from that seat, an.i.131 he would scatter them all over, so too, some person often goes to the monastery to listen to the Dhamma from the bhikkhus…. But after he has risen from his seat, he does not attend to that talk at the beginning, in the middle, or at the end. This is called the person with lap-like wisdom.
SC 4(3) “And what is the person with wide wisdom? Here, some person often goes to the monastery to listen to the Dhamma from the bhikkhus. The bhikkhus teach him the Dhamma that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing; they reveal the perfectly complete and pure spiritual life. While he is sitting in his seat, he attends to that talk at the beginning, in the middle, and at the end. After he has risen from his seat, again he attends to that talk at the beginning, in the middle, and at the end. Just as, when a pot is kept upright, the water that had been poured into it stays there and does not run off, so too, some person often goes to the monastery to listen to the Dhamma from the bhikkhus…. After he has risen from his seat, again he attends to that talk at the beginning, in the middle, and at the end. This is called the person with wide wisdom.
SC 5“These, bhikkhus, are the three kinds of persons found existing in the world.”
SC 6The person with inverted wisdom,
stupid and undiscerning,
often goes to visit bhikkhus
to hear them teach the Dhamma.
SC 7Yet this person cannot grasp
anything from the talk,
at its beginning, middle, and end,
for he utterly lacks wisdom.
SC 8The person with lap-like wisdom
is said to be better than the former.
He too often goes to visit bhikkhus
to hear them teach the Dhamma.
SC 9While sitting in his seat,
he grasps the phrasing of the talk,
at its beginning, middle, and end.
But after rising, he no longer understands,
but forgets what he had learned.
SC 10The person with wide wisdom
is said to be the best of these.
He too often goes to visit bhikkhus
to hear them teach the Dhamma.
SC 11While sitting in his seat,
he comprehends the phrasing,
at the beginning, middle, and end
of the talk given by the bhikkhu.
SC 12This person of the best intentions,
his mind undivided, retains what he hears.
Practicing in accordance with the Dhamma,
he can make an end of suffering. an.i.132
—Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người với trí tuệ lộn ngược, hạng người với trí tuệ bắp vế, hạng người với trí tuệ rộng lớn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người với trí tuệ lộn ngược? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) thường thường nghe pháp từ các Tỷ-kheo, các vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho người ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, một cái ghè bị lộn ngược, nước chứa trong ấy tuôn chảy, không có dừng lại. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn … không có tác ý đoạn cuối. Cũng vậy, khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng lên … không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ lộn ngược.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người với trí tuệ bắp vế? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá). Người ấy, tại chỗ ngồi ấy, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu, có tác ý đến đoạn giữa, có tác ý đến đoạn cuối. Nhưng khi người ấy từ chỗ ngồi ấy đứng dậy, đối với bài thuyết giảng ấy, người ấy không có tác ý đến đoạn đầu, không có tác ý đến đoạn giữa, không có tác ý đến đoạn cuối. Ví như này các Tỷ-kheo, trên bắp vế của một người, các loại đồ ăn được chồng lên như hạt mè, hột gạo, các loại kẹo và trái táo. Khi từ chỗ ngồi đứng dậy, vì vô ý, người ấy làm đổ vãi tất cả. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có hạng người đi đến khu vườn … Người ấy, tại chỗ ngồi ấy … có tác ý đoạn cuối. Nhưng khi người ấy tại chỗ ngồi ấy đứng dậy … không có tác ý đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người với trí tuệ bắp vế.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có trí tuệ rộng lớn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) … trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Tại chỗ ngồi ấy, vị ấy đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi vị ấy, từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè được dựng đứng, nước chứa trong ấy được giữ lại, không có chảy đi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ở đây, có hạng người đi đến khu vườn (tinh xá) … trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Tại chỗ ngồi ấy, vị ấy đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Cũng vậy, khi vị ấy, từ chỗ ngồi ấy đứng lên, đối với bài thuyết giảng ấy, có tác ý đến đoạn đầu … có tác ý đến đoạn cuối. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hạng người có trí tuệ rộng lớn.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.
Hạng trí tuệ lộn ngược
Không thông minh, không mắt
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Họ không học được gì,
Họ không có trí tuệ
Hạng trí tuệ bắp vế
Ðược gọi là tốt hơn
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Ngồi trên chỗ mình ngồi
Nắm giữ được lời văn
Ðứng dậy không hiểu rõ
Quên mất điều đã nắm
Bậc trí tuệ rộng lớn
Ðược gọi tốt hơn cả
Họ thường thường đi đến
Ðến gần các Tỷ-kheo
Ðoạn đầu của bài giảng
Ðoạn giữa và đoạn cuối
Ngồi trên chỗ mình ngồi
Nắm giữ được lời văn
Thọ trì điều được nghe
Suy tư điều tối thắng
Với ý không dao động
Là hạng người như vậy
Thực hành pháp, tùy pháp
Có thể đoạn khổ đau.
“Tayome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Avakujjapañño puggalo, ucchaṅgapañño puggalo, puthupañño puggalo.
Katamo ca, bhikkhave, avakujjapañño puggalo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti;
vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, kumbho nikujjo tatra udakaṁ āsittaṁ vivaṭṭati, no saṇṭhāti;
evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti;
vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, avakujjapañño puggalo.
Katamo ca, bhikkhave, ucchaṅgapañño puggalo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti;
vuṭṭhito ca kho tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, purisassa ucchaṅge nānākhajjakāni ākiṇṇāni—
tilā taṇḍulā modakā badarā.
So tamhā āsanā vuṭṭhahanto satisammosā pakireyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti;
vuṭṭhito ca kho tamhā āsanā tassā kathāya neva ādiṁ manasi karoti, na majjhaṁ manasi karoti, na pariyosānaṁ manasi karoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ucchaṅgapañño puggalo.
Katamo ca, bhikkhave, puthupañño puggalo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti;
vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, kumbho ukkujjo tatra udakaṁ āsittaṁ saṇṭhāti no vivaṭṭati;
evamevaṁ kho, bhikkhave, idhekacco puggalo ārāmaṁ gantā hoti abhikkhaṇaṁ bhikkhūnaṁ santike dhammassavanāya.
Tassa bhikkhū dhammaṁ desenti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsenti.
So tasmiṁ āsane nisinno tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti;
vuṭṭhitopi tamhā āsanā tassā kathāya ādimpi manasi karoti, majjhampi manasi karoti, pariyosānampi manasi karoti.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, puthupañño puggalo.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā lokasminti.
Avakujjapañño puriso,
dummedho avicakkhaṇo;
Abhikkhaṇampi ce hoti,
gantā bhikkhūna santike.
Ādiṁ kathāya majjhañca,
pariyosānañca tādiso;
Uggahetuṁ na sakkoti,
paññā hissa na vijjati.
Ucchaṅgapañño puriso,
seyyo etena vuccati;
Abhikkhaṇampi ce hoti,
gantā bhikkhūna santike.
Ādiṁ kathāya majjhañca,
pariyosānañca tādiso;
Nisinno āsane tasmiṁ,
uggahetvāna byañjanaṁ;
Vuṭṭhito nappajānāti,
gahitaṁ hissa mussati.
Puthupañño ca puriso,
seyyo etehi vuccati;
Abhikkhaṇampi ce hoti,
gantā bhikkhūna santike.
Ādiṁ kathāya majjhañca,
pariyosānañca tādiso;
Nisinno āsane tasmiṁ,
uggahetvāna byañjanaṁ.
Dhāreti seṭṭhasaṅkappo,
Abyaggamānaso naro;
Dhammānudhammappaṭipanno,
Dukkhassantakaro siyā”ti.
Dasamaṁ.
Puggalavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Samiddha gilāna saṅkhārā,
bahukārā vajirena ca;
Sevi jiguccha gūthabhāṇī,
andho ca avakujjatāti.