TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm hạng chiến sĩ này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chiến sĩ chỉ thấy bụi mù dấy lên đã chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là người chiến sĩ thứ nhất có mặt hiện hữu ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, chịu đựng tiếng la hét, nhưng khi bị thương trong chiến trận, liền thất kinh, thất đảm. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, chịu đựng tiếng la hét, chịu đựng cuộc xáp chiến. Vị ấy, sau khi thắng trận, dự phần vào chiến thắng, cầm đầu trong chiến thắng. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng chiến sĩ. Ðây là hạng người chiến sĩ thứ năm, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
Năm hạng người chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với năm hạng chiến sĩ này, có năm hạng người có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi thấy bụi mù dấy lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là bụi mù dấy lên đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được nghe: “Tại một làng hay một thị trấn kia, có người phụ nữ hay thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen”. Khi được nghe vậy, vị ấy liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa bụi mù dấy lên đối với vị ấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, hạng người chiến sĩ ấy, khi mới thấy bụi mù dấy lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham dự chiến trận. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Ðây là người, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với hạng người chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là cờ xí dựng lên đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có nghe: “Tại một làng hay thị trấn kia, có người phụ nữ hay thiếu nữ đạp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen”, nhưng vị ấy tự mình thấy một phụ nữ hay một thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen. Vị ấy, sau khi thấy người phụ nữ hay người thiếu nữ ấy, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa cờ xí dựng lên đối với vị ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, hạng người chiến sĩ ấy chịu đựng được bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể ra trận xáp chiến. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Ðây là người, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với hạng người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là tiếng la hét đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một nữ nhân đi đến vị Tỷ-kheo tại ngôi rừng, dưới một gốc cây hay tại ngôi nhà trống, cười nhạo Tỷ-kheo, nói mơn trớn, nói cười lớn tiếng, cợt nhả. Tỷ-kheo bị nữ nhân cười nhạo, nói mơn trớn, nói cười lớn tiếng, cợt nhả, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự hèn yếu trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa của tiếng la hét đối với vị ấy.
Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể ra trận xáp chiến. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, nhưng bị thương trong khi xáp chiến lâm trận liền thất kinh thất đảm. Thế nào là xáp chiến lâm trận đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi đi đến ngôi rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, một nữ nhân đến Tỷ-kheo ấy, ngồi sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn. Tỷ-kheo ấy được nữ nhân ngồi sát một bên, nằm sát một bên, được vuốt ve mơn trớn, không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém trong học tập, (nhưng vị ấy lại) rơi vào hành dâm (với nữ nhân). Ðây là nghĩa xáp chiến lâm trận đối với vị ấy. Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, nhưng khi lâm trận xáp chiến, bị thương, thất kinh, thất đảm. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, chịu đựng được xáp chiến lâm trận. Vị ấy sau khi chiến thắng chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong trận chiến ấy. Thế nào là sự chiến thắng trong chiến trận đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo đi đến ngôi nhà rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, có nữ nhân đi đến vị ấy, ngồi xuống sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn. Vị ấy, khi được nữ nhân ngồi sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn, liền gỡ mình ra, gỡ thoát ra, và ra đi chỗ nào mình muốn.
Và vị ấy đi đến một chỗ trống trải, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe đá, hang núi, nghĩa địa, cao nguyên, ngoài trời, đống rơm. Rồi vị ấy đi đến khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng và để niệm trước mặt. Vị ấy, sau khi đoạn tận tham, an trú với tâm ly tham, gột sạch tâm khỏi tham, sau khi đoạn tận sân, an trú với tâm ly sân, có lòng thương tưởng đến tất cả loài hữu tình và chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận; sau khi đoạn tận hôn trầm thụy miên, an trú với tâm ly thụy miên hôn trầm, với tưởng ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm thụy miên; sau khi đoạn tận trạo cử hối quá, an trú không trạo cử, nội tâm tịch tịnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử hối quá; sau khi đoạn tận nghi, an trú với tâm vượt khỏi nghi ngờ, không còn nghi hoặc, gột sạch tâm khỏi nghi ngờ đối với các thiện pháp. Vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái này, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, ly dục, ly các pháp bất thiện… chứng đạt và an trú sơ Thiền… an trú Thiền thứ tư.
Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, ly các tùy phiền mão, nhu nhuyến, kham nhẫn, kiên trì, bất động, hướng tâm về trí đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”; như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”; như thật rõ biết: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”; như thật rõ biết: “Những pháp này là những lậu hoặc”; như thật rõ biết: “Ðây là lậu hoặc tập khởi”; như thật rõ biết: “Ðây là lậu hoặc đoạn diệt”. Như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc đoạn diệt”. Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, nay không còn trở lui trạng thái này nữa”. Ðây là sự chiến thắng trong trận chiến đối với vị ấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được các tiếng la hét, chịu đựng được sự xáp chiến. Vị ấy, sau khi chiến thắng chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong trận chiến ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đấy là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ năm có mặt, hiện hữu ở đời.
Những người này, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với năm chiến sĩ có mặt, hiện hữu ở giữa các vị Tỷ-kheo.
“Pañcime, bhikkhave, yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco yodhājīvo rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ;
api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ sahati dhajaggaṁ;
api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ;
api ca kho sampahāre haññati byāpajjati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ.
So taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Kimassa rajaggasmiṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā kumārī vā abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā’ti.
So taṁ sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Idamassa rajaggasmiṁ.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ;
api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Kimassa dhajaggasmiṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu na heva kho suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā kumārī vā abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā’ti;
api ca kho sāmaṁ passati itthiṁ vā kumāriṁ vā abhirūpaṁ dassanīyaṁ pāsādikaṁ paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgataṁ.
So taṁ disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Idamassa dhajaggasmiṁ.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ;
api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ;
api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Kimassa ussāraṇāya?
Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā ūhasati ullapati ujjagghati uppaṇḍeti.
So mātugāmena ūhasiyamāno ullapiyamāno ujjagghiyamāno uppaṇḍiyamāno saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Idamassa ussāraṇāya.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ;
api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ;
api ca kho sampahāre haññati byāpajjati.
Kimassa sampahārasmiṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā abhinisīdati abhinipajjati ajjhottharati.
So mātugāmena abhinisīdiyamāno abhinipajjiyamāno ajjhotthariyamāno sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati.
Idamassa sampahārasmiṁ.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, api ca kho sampahāre haññati byāpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati.
Kimassa saṅgāmavijayasmiṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā abhinisīdati abhinipajjati ajjhottharati.
So mātugāmena abhinisīdiyamāno abhinipajjiyamāno ajjhotthariyamāno viniveṭhetvā vinimocetvā yena kāmaṁ pakkamati.
So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti;
byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati, sabbapāṇabhūtahitānukampī byāpādapadosā cittaṁ parisodheti;
thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti;
uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti;
vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe
vivicceva kāmehi …pe…
catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti,
‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati,
vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Idamassa saṅgāmavijayasmiṁ.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsū”ti.
Pañcamaṁ.
“Monks, there are these five types of warriors who can be found existing in the world. Which five?
“There is the case of a warrior who, on seeing a cloud of dust [stirred up by the enemy army], falters, faints, doesn’t steel himself, can’t engage in the battle. Some warriors are like this. This is the first type of warrior who can be found existing in the world.
“Then there is the warrior who can handle the cloud of dust, but on seeing the top of the enemy’s banner, he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t engage in the battle. Some warriors are like this. This is the second type of warrior who can be found existing in the world.
“Then there is the warrior who can handle the cloud of dust & the top of the enemy’s banner, but on hearing the tumult [of the approaching forces], he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t engage in the battle. Some warriors are like this. This is the third type of warrior who can be found existing in the world.
“Then there is the warrior who can handle the cloud of dust, the top of the enemy’s banner, & the tumult, but when in hand-to-hand combat he is struck and falls wounded. Some warriors are like this. This is the fourth type of warrior who can be found existing in the world.
“Then there is the warrior who can handle the cloud of dust, the top of the enemy’s banner, the tumult, & the hand-to-hand combat. On winning the battle, victorious in battle, he comes out at the very head of the battle. Some warriors are like this. This is the fifth type of warrior who can be found existing in the world.
“These are the five types of warriors who can be found existing in the world.
“In the same way, monks, there are these five warrior-like individuals who can be found existing among the monks. Which five?
[1] “There is the case of the monk who, on seeing a cloud of dust, falters, faints, doesn’t steel himself, can’t continue in the holy life. Declaring his weakness in the training, he leaves the training and returns to the lower life. What is the cloud of dust for him? There is the case of the monk who hears, ‘In that village or town over there is a woman or girl who is shapely, good-looking, charming, endowed with the foremost lotus-like complexion.’ On hearing this, he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t continue in the holy life. Declaring his weakness in the training, he leaves the training and returns to the lower life. That, for him, is the cloud of dust. This individual, I tell you, is like the warrior who, on seeing a cloud of dust, falters, faints, doesn’t steel himself, can’t engage in the battle. Some individuals are like this. This is the first type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
[2] “Then there is the case of the monk who can handle the cloud of dust, but on seeing the top of the enemy’s banner, he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t continue in the holy life. Declaring his weakness in the training, he leaves the training and returns to the lower life. What is the top of the banner for him? There is the case of the monk who not only hears that ‘In that village or town over there is a woman or girl who is shapely, good-looking, charming, endowed with the foremost lotus-like complexion.’ He sees for himself that in that village or town over there is a woman or girl who is shapely, good-looking, charming, endowed with the foremost lotus-like complexion. On seeing her, he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t continue in the holy life. Declaring his weakness in the training, he leaves the training and returns to the lower life. That, for him, is the top of the banner. This individual, I tell you, is like the warrior who can handle the cloud of dust, but on seeing the top of the enemy’s banner, he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t engage in the battle. Some individuals are like this. This is the second type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
[3] “Then there is the case of the monk who can handle the cloud of dust & the top of the enemy’s banner, but on hearing the tumult [of the approaching forces], he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t continue in the holy life. Declaring his weakness in the training, he leaves the training and returns to the lower life. What is the tumult for him? There is the case of the monk who has gone to the wilderness, to the foot of a tree, or to an empty building. A woman approaches him and giggles at him, calls out to him, laughs aloud, & teases him. On being giggled at, called out to, laughed at, & teased by the woman, he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t continue in the holy life. Declaring his weakness in the training, he leaves the training and returns to the lower life. That, for him, is the tumult. This individual, I tell you, is like the warrior who can handle the cloud of dust & the top of the enemy’s banner, but on hearing the tumult he falters, faints, doesn’t steel himself, can’t engage in the battle. Some individuals are like this. This is the third type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
[4] “Then there is the case of the monk who can handle the cloud of dust, the top of the enemy’s banner, & the tumult, but when in hand-to-hand combat he is struck and falls wounded. What is the hand-to-hand combat for him? There is the case of the monk who has gone to the wilderness, to the foot of a tree, or to an empty building. A woman approaches him and sits down right next to him, lies down right next to him, throws herself all over him. When she sits down right next to him, lies down right next to him, and throws herself all over him, he—without renouncing the training, without declaring his weakness—engages in sexual intercourse. This, for him, is hand-to-hand combat. This individual, I tell you, is like the warrior who can handle the cloud of dust, the top of the enemy’s banner, & the tumult, but when in hand-to-hand combat he is struck and falls wounded. Some individuals are like this. This is the fourth type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
[5] “Then there is the case of the monk who can handle the cloud of dust, the top of the enemy’s banner, the tumult, & hand-to-hand combat. On winning the battle, victorious in battle, he comes out at the very head of the battle. What is victory in the battle for him? There is the case of the monk who has gone to the wilderness, to the foot of a tree, or to an empty dwelling. A woman approaches him and sits down right next to him, lies down right next to him, throws herself all over him. When she sits down right next to him, lies down right next to him, and throws herself all over him, he extricates himself, frees himself, and goes off where he will.
“He resorts to a secluded dwelling place: the wilderness, the foot of a tree, a mountain, a glen, a hillside cave, a charnel ground, a forest grove, the open air, a haystack. Having gone to the wilderness, the foot of a tree, or an empty building, he sits down, crosses his legs, holds his body erect, and brings mindfulness to the fore.
“Abandoning covetousness with regard to the world, he dwells with an awareness devoid of covetousness. He cleanses his mind of covetousness. Abandoning ill will & anger, he dwells with an awareness devoid of ill will, sympathetic with the welfare of all living beings. He cleanses his mind of ill will & anger. Abandoning sloth & drowsiness, he dwells with an awareness devoid of sloth & drowsiness, mindful, alert, percipient of light. He cleanses his mind of sloth & drowsiness. Abandoning restlessness & anxiety, he dwells undisturbed, his mind inwardly stilled. He cleanses his mind of restlessness & anxiety. Abandoning uncertainty, he dwells having crossed over uncertainty, with no perplexity with regard to skillful mental qualities. He cleanses his mind of uncertainty.
“Having abandoned these five hindrances, corruptions of awareness that weaken discernment, then—quite withdrawn from sensuality, withdrawn from unskillful [mental] qualities—he enters & remains in the first jhana: rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation. With the stilling of directed thoughts & evaluations, he enters & remains in the second jhana: rapture & pleasure born of concentration, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance. With the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters & remains in the third jhana, of which the Noble Ones declare, ‘Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding.’ With the abandoning of pleasure & pain—as with the earlier disappearance of elation & distress—he enters & remains in the fourth jhana: purity of equanimity & mindfulness, neither pleasure nor pain.
“With his mind thus concentrated, purified, & bright, unblemished, free from defects, pliant, malleable, steady, & attained to imperturbability, he directs and inclines it to the knowledge of the ending of the mental fermentations. He discerns, as it has come to be, that ‘This is stress… This is the origination of stress… This is the cessation of stress… This is the way leading to the cessation of stress… These are mental fermentations… This is the origination of fermentations… This is the cessation of fermentations… This is the way leading to the cessation of fermentations.’ His heart, thus knowing, thus seeing, is released from the fermentation of sensuality, the fermentation of becoming, the fermentation of ignorance. With release, there is the knowledge, ‘Released.’ He discerns that ‘Birth is ended, the holy life fulfilled, the task done. There is nothing further for this world.’
“This, for him, is victory in the battle. This individual, I tell you, is like the warrior who can handle the cloud of dust, the top of the enemy’s banner, the tumult, & hand-to-hand combat. On winning the battle, victorious in battle, he comes out at the very head of the battle. Some individuals are like this. This is the fifth type of warrior-like individual who can be found existing among the monks.
“These are the five warrior-like individuals who can be found existing among the monks.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm hạng chiến sĩ này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chiến sĩ chỉ thấy bụi mù dấy lên đã chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là người chiến sĩ thứ nhất có mặt hiện hữu ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham gia chiến trận. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, chịu đựng tiếng la hét, nhưng khi bị thương trong chiến trận, liền thất kinh, thất đảm. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người chiến sĩ. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người chiến sĩ có thể chịu đựng bụi mù dấy lên, chịu đựng cờ xí dựng lên, chịu đựng tiếng la hét, chịu đựng cuộc xáp chiến. Vị ấy, sau khi thắng trận, dự phần vào chiến thắng, cầm đầu trong chiến thắng. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng chiến sĩ. Ðây là hạng người chiến sĩ thứ năm, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
Năm hạng người chiến sĩ này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 7Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với năm hạng chiến sĩ này, có năm hạng người có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo. Thế nào là năm?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi thấy bụi mù dấy lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là bụi mù dấy lên đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được nghe: “Tại một làng hay một thị trấn kia, có người phụ nữ hay thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen”. Khi được nghe vậy, vị ấy liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa bụi mù dấy lên đối với vị ấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, hạng người chiến sĩ ấy, khi mới thấy bụi mù dấy lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tham dự chiến trận. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Ðây là người, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với hạng người chiến sĩ thứ nhất có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 9Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là cờ xí dựng lên đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có nghe: “Tại một làng hay thị trấn kia, có người phụ nữ hay thiếu nữ đạp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen”, nhưng vị ấy tự mình thấy một phụ nữ hay một thiếu nữ đẹp đẽ, khả ái, làm đẹp lòng người với sắc mặt đẹp thù thắng như hoa sen. Vị ấy, sau khi thấy người phụ nữ hay người thiếu nữ ấy, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không thể có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa cờ xí dựng lên đối với vị ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, hạng người chiến sĩ ấy chịu đựng được bụi mù dấy lên, nhưng khi thấy cờ xí dựng lên, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể ra trận xáp chiến. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Ðây là người, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với hạng người chiến sĩ thứ hai có mặt, hiện hữu giữa các vị Tỷ-kheo
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự yếu kém trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Thế nào là tiếng la hét đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, một nữ nhân đi đến vị Tỷ-kheo tại ngôi rừng, dưới một gốc cây hay tại ngôi nhà trống, cười nhạo Tỷ-kheo, nói mơn trớn, nói cười lớn tiếng, cợt nhả. Tỷ-kheo bị nữ nhân cười nhạo, nói mơn trớn, nói cười lớn tiếng, cợt nhả, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể tiếp tục đời sống Phạm hạnh, sau khi biểu lộ sự hèn yếu trong học tập, liền bỏ học pháp, trở lui lại đời sống thế tục. Ðây là nghĩa của tiếng la hét đối với vị ấy.
Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, nhưng khi nghe tiếng la hét, liền chùn chân, rủn chí, không còn can đảm, không có thể ra trận xáp chiến. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ ba có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, nhưng bị thương trong khi xáp chiến lâm trận liền thất kinh thất đảm. Thế nào là xáp chiến lâm trận đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi đi đến ngôi rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, một nữ nhân đến Tỷ-kheo ấy, ngồi sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn. Tỷ-kheo ấy được nữ nhân ngồi sát một bên, nằm sát một bên, được vuốt ve mơn trớn, không từ bỏ học tập, không biểu lộ sự yếu kém trong học tập, (nhưng vị ấy lại) rơi vào hành dâm (với nữ nhân). Ðây là nghĩa xáp chiến lâm trận đối với vị ấy. Ví như người chiến sĩ ấy, này các Tỷ-kheo, chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, nhưng khi lâm trận xáp chiến, bị thương, thất kinh, thất đảm. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy ở đây, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ tư có mặt, hiện hữu giữa các Tỷ-kheo.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được tiếng la hét, chịu đựng được xáp chiến lâm trận. Vị ấy sau khi chiến thắng chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong trận chiến ấy. Thế nào là sự chiến thắng trong chiến trận đối với vị ấy? Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi vị Tỷ-kheo đi đến ngôi nhà rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, có nữ nhân đi đến vị ấy, ngồi xuống sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn. Vị ấy, khi được nữ nhân ngồi sát một bên, nằm sát một bên, vuốt ve mơn trớn, liền gỡ mình ra, gỡ thoát ra, và ra đi chỗ nào mình muốn.
Và vị ấy đi đến một chỗ trống trải, khu rừng, gốc cây, ngọn núi, khe đá, hang núi, nghĩa địa, cao nguyên, ngoài trời, đống rơm. Rồi vị ấy đi đến khu rừng, đi đến gốc cây hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng và để niệm trước mặt. Vị ấy, sau khi đoạn tận tham, an trú với tâm ly tham, gột sạch tâm khỏi tham, sau khi đoạn tận sân, an trú với tâm ly sân, có lòng thương tưởng đến tất cả loài hữu tình và chúng sanh, gột sạch tâm khỏi sân hận; sau khi đoạn tận hôn trầm thụy miên, an trú với tâm ly thụy miên hôn trầm, với tưởng ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm khỏi hôn trầm thụy miên; sau khi đoạn tận trạo cử hối quá, an trú không trạo cử, nội tâm tịch tịnh, gột sạch tâm khỏi trạo cử hối quá; sau khi đoạn tận nghi, an trú với tâm vượt khỏi nghi ngờ, không còn nghi hoặc, gột sạch tâm khỏi nghi ngờ đối với các thiện pháp. Vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái này, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, ly dục, ly các pháp bất thiện… chứng đạt và an trú sơ Thiền… an trú Thiền thứ tư.
Vị ấy với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, ly các tùy phiền mão, nhu nhuyến, kham nhẫn, kiên trì, bất động, hướng tâm về trí đoạn tận các lậu hoặc. Vị ấy như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”; như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”; như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”; như thật rõ biết: “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”; như thật rõ biết: “Những pháp này là những lậu hoặc”; như thật rõ biết: “Ðây là lậu hoặc tập khởi”; như thật rõ biết: “Ðây là lậu hoặc đoạn diệt”. Như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc đoạn diệt”. Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, nay không còn trở lui trạng thái này nữa”. Ðây là sự chiến thắng trong trận chiến đối với vị ấy.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người chiến sĩ chịu đựng được bụi mù dấy lên, chịu đựng được cờ xí dựng lên, chịu đựng được các tiếng la hét, chịu đựng được sự xáp chiến. Vị ấy, sau khi chiến thắng chiến trận ấy, chiến thắng trong chiến trận, vị ấy vẫn đứng hàng đầu trong trận chiến ấy. Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố người này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là một hạng người. Này các Tỷ-kheo, đấy là hạng người được ví dụ với người chiến sĩ thứ năm có mặt, hiện hữu ở đời.
Những người này, này các Tỷ-kheo, được ví dụ với năm chiến sĩ có mặt, hiện hữu ở giữa các vị Tỷ-kheo.
“Pañcime, bhikkhave, yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, ekacco yodhājīvo rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati na santhambhati na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ;
api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ sahati dhajaggaṁ;
api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ;
api ca kho sampahāre haññati byāpajjati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ.
So taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco yodhājīvo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, pañcime yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsu.
Katame pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Kimassa rajaggasmiṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā kumārī vā abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā’ti.
So taṁ sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Idamassa rajaggasmiṁ.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo rajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ;
api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Kimassa dhajaggasmiṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu na heva kho suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā kumārī vā abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā’ti;
api ca kho sāmaṁ passati itthiṁ vā kumāriṁ vā abhirūpaṁ dassanīyaṁ pāsādikaṁ paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgataṁ.
So taṁ disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Idamassa dhajaggasmiṁ.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ;
api ca kho dhajaggaññeva disvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ;
api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Kimassa ussāraṇāya?
Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā ūhasati ullapati ujjagghati uppaṇḍeti.
So mātugāmena ūhasiyamāno ullapiyamāno ujjagghiyamāno uppaṇḍiyamāno saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti brahmacariyaṁ sandhāretuṁ.
Sikkhādubbalyaṁ āvikatvā sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
Idamassa ussāraṇāya.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ;
api ca kho ussāraṇaññeva sutvā saṁsīdati visīdati, na santhambhati, na sakkoti saṅgāmaṁ otarituṁ;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ;
api ca kho sampahāre haññati byāpajjati.
Kimassa sampahārasmiṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā abhinisīdati abhinipajjati ajjhottharati.
So mātugāmena abhinisīdiyamāno abhinipajjiyamāno ajjhotthariyamāno sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭisevati.
Idamassa sampahārasmiṁ.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, api ca kho sampahāre haññati byāpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati.
Kimassa saṅgāmavijayasmiṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhuṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā mātugāmo upasaṅkamitvā abhinisīdati abhinipajjati ajjhottharati.
So mātugāmena abhinisīdiyamāno abhinipajjiyamāno ajjhotthariyamāno viniveṭhetvā vinimocetvā yena kāmaṁ pakkamati.
So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
So araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
So abhijjhaṁ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati, abhijjhāya cittaṁ parisodheti;
byāpādapadosaṁ pahāya abyāpannacitto viharati, sabbapāṇabhūtahitānukampī byāpādapadosā cittaṁ parisodheti;
thinamiddhaṁ pahāya vigatathinamiddho viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṁ parisodheti;
uddhaccakukkuccaṁ pahāya anuddhato viharati ajjhattaṁ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṁ parisodheti;
vicikicchaṁ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṅkathī kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṁ parisodheti.
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe
vivicceva kāmehi …pe…
catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti,
‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati,
vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Idamassa saṅgāmavijayasmiṁ.
Seyyathāpi so, bhikkhave, yodhājīvo sahati rajaggaṁ, sahati dhajaggaṁ, sahati ussāraṇaṁ, sahati sampahāraṁ, so taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ puggalaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco puggalo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, pañcamo yodhājīvūpamo puggalo santo saṁvijjamāno bhikkhūsu.
Ime kho, bhikkhave, pañca yodhājīvūpamā puggalā santo saṁvijjamānā bhikkhūsū”ti.
Pañcamaṁ.