TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, như thế nào là sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm, với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
TTC 3Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ nhất về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
TTC 5Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước, nước tự dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nuớc ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ hai về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
TTC 7Ví như, này các Tỷ-kheo, trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay sen trắng, những bông hoa ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ ba về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
TTC 9Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngồi người dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che phủ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân này với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ tư về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
TTC 11Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 12Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè nước đặt trên một cái giá, ghè ấy đựng đầy nước, tràn đầy đến nỗi con quạ có thể uống được. Và một người có sức mạnh đến lắc qua lắc lại cái ghè ấy, như vậy nước có đổ ra chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập như vậy, Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 13Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước trên một khoảnh đất bằng, bốn góc có bờ đê đắp cao đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được. Rồi một người có sức mạnh đến tháo bờ đê chỗ này chỗ kia, như vậy nước có đổ ra chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập như vậy… dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 14Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có một chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa thuần chủng, có gậy thúc ngựa đặt ngang sẵn sàng. Có người huấn luyện ngựa thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương tay mặt cầm lấy gậy thúc ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui tại chỗ nào và như thế nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như vậy, Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 15Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân… “ (như trên, số 23, mục 6)… dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 16Nếu vị ấy ước muốn: “Thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân… “ (như trên, số 23, mục 7)
TTC 17Nếu vị ấy ước muốn: “Mong rằng với tâm của mình có thể hiểu biết được tâm của các loại chúng sanh khác… “ (như trên, số 23, mục 8)…
TTC 18Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời… “ (như trên, số 23, mục 9)…
TTC 19Nếu vị ấy ước muốn: “Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự sống chết của chúng sanh… “ (như trên, số 23, mục 10)
TTC 20Nếu vị ấy ước muốn: “Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
“Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa bhāvanaṁ desessāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamā ca, bhikkhave, ariyassa pañcaṅgikassa sammāsamādhissa bhāvanā?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho nhāpako vā nhāpakantevāsī vā kaṁsathāle nhānīyacuṇṇāni ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ sanneyya. Sāyaṁ nhānīyapiṇḍi snehānugatā snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena, na ca paggharinī.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ paṭhamā bhāvanā.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, udakarahado gambhīro ubbhidodako. Tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṁ, devo ca kālena kālaṁ sammā dhāraṁ nānuppaveccheyya.
Atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṁ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya; nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ dutiyā bhāvanā.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni anto nimuggaposīni.
Tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni paripūrāni paripphuṭāni;
nāssa kiñci sabbāvataṁ uppalānaṁ vā padumānaṁ vā puṇḍarīkānaṁ vā sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ tatiyā bhāvanā.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso odātena vatthena sasīsaṁ pārupitvā nisinno assa;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena vatthena apphuṭaṁ assa.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ catutthā bhāvanā.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇānimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya.
Seyyathāpi, bhikkhave, aññova aññaṁ paccavekkheyya, ṭhito vā nisinnaṁ paccavekkheyya, nisinno vā nipannaṁ paccavekkheyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇānimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ pañcamā bhāvanā.
Evaṁ bhāvite kho, bhikkhave, bhikkhu ariye pañcaṅgike sammāsamādhimhi evaṁ bahulīkate yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko ādhāre ṭhapito pūro udakassa samatittiko kākapeyyo.
Tamenaṁ balavā puriso yato yato āvajjeyya, āgaccheyya udakan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ bhāvite ariye pañcaṅgike sammāsamādhimhi evaṁ bahulīkate yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
Seyyathāpi, bhikkhave, same bhūmibhāge pokkharaṇī caturaṁsā ālibaddhā pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā.
Tamenaṁ balavā puriso yato yato āliṁ muñceyya, āgaccheyya udakan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ bhāvite ariye pañcaṅgike sammāsamādhimhi evaṁ bahulīkate yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa …pe… sati sati āyatane.
Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṁ catumahāpathe ājaññaratho yutto assa ṭhito odhastapatodo.
Tamenaṁ dakkho yoggācariyo assadammasārathi abhiruhitvā vāmena hatthena rasmiyo gahetvā dakkhiṇena hatthena patodaṁ gahetvā yenicchakaṁ yadicchakaṁ sāreyyapi paccāsāreyyapi.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ bhāvite ariye pañcaṅgike sammāsamādhimhi evaṁ bahulīkate yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhaveyyaṁ—ekopi hutvā bahudhā assaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇeyyaṁ—dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajāneyyaṁ—
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
sadosaṁ vā cittaṁ …
vītadosaṁ vā cittaṁ …
samohaṁ vā cittaṁ …
vītamohaṁ vā cittaṁ …
saṅkhittaṁ vā cittaṁ …
vikkhittaṁ vā cittaṁ …
mahaggataṁ vā cittaṁ …
amahaggataṁ vā cittaṁ …
sauttaraṁ vā cittaṁ …
anuttaraṁ vā cittaṁ …
samāhitaṁ vā cittaṁ …
asamāhitaṁ vā cittaṁ …
vimuttaṁ vā cittaṁ …
avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajāneyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyaṁ, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ, dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajāneyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, I will teach you the development of noble five-factored right concentration. Listen and attend closely. I will speak.”
SC 2“Yes, Bhante,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 3“And what, bhikkhus, is the development of noble five-factored right concentration?
SC 4(1) “Here, secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, a bhikkhu enters and dwells in the first jhāna, which consists of rapture and pleasure born of seclusion, accompanied by thought and examination. He makes the rapture and happiness born of seclusion drench, steep, fill, and pervade this body, so that there is no part of his whole body that is not pervaded by the rapture and happiness born of seclusion. Just as a skillful bath man or a bath man’s apprentice might heap bath powder in a metal basin and, sprinkling it gradually with water, would knead it until the moisture wets his ball of bath powder, soaks it, and pervades it inside and out, yet the ball itself does not ooze; so too, the bhikkhu makes the rapture and happiness born of seclusion drench, steep, fill, and pervade this body, so that there is no part of his whole body that is not pervaded by the rapture and happiness born of seclusion. This is the first development of noble five-factored right concentration.
SC 5(2) “Again, with the subsiding of thought and examination, a bhikkhu enters and dwells in the second jhāna, which has internal placidity and unification of mind and consists of rapture and pleasure born of concentration, without thought and examination. He makes the rapture and happiness born of concentration drench, steep, fill, and pervade this body, so that there is no part of his whole body that is not pervaded by the rapture and happiness born of concentration. Just as there might be a lake whose waters welled up from below with no inflow from east, west, north, an.iii.26 or south, and the lake would not be replenished from time to time by showers of rain, then the cool fount of water welling up in the lake would make the cool water drench, steep, fill, and pervade the lake, so that there would be no part of the whole lake that is not pervaded by cool water; so too, the bhikkhu makes the rapture and happiness born of concentration drench, steep, fill, and pervade this body, so that there is no part of his whole body that is not pervaded by the rapture and happiness born of concentration. This is the second development of noble five-factored right concentration.
SC 6(3) “Again, with the fading away as well of rapture, a bhikkhu dwells equanimous and, mindful and clearly comprehending, he experiences pleasure with the body; he enters and dwells in the third jhāna of which the noble ones declare: ‘He is equanimous, mindful, one who dwells happily.’ He makes the happiness divested of rapture drench, steep, fill, and pervade this body, so that there is no part of his whole body that is not pervaded by the happiness divested of rapture. Just as, in a pond of blue or red or white lotuses, some lotuses that are born and grow in the water might thrive immersed in the water without rising out of it, and cool water would drench, steep, fill, and pervade them to their tips and their roots, so that there would be no part of those lotuses that would not be pervaded by cool water; so too, the bhikkhu makes the happiness divested of rapture drench, steep, fill, and pervade this body, so that there is no part of his whole body that is not pervaded by the happiness divested of rapture. This is the third development of noble five-factored right concentration.
SC 7(4) “Again, with the abandoning of pleasure an.iii.27 and pain, and with the previous passing away of joy and dejection, a bhikkhu enters and dwells in the fourth jhāna, neither painful nor pleasant, which has purification of mindfulness by equanimity. He sits pervading this body with a pure bright mind, so that there is no part of his whole body that is not pervaded by the pure bright mind. Just as a man might be sitting covered from the head down with a white cloth, so that there would be no part of his whole body that is not pervaded by the white cloth; so too, the bhikkhu sits pervading this body with a pure bright mind, so that there is no part of his whole body that is not pervaded by the pure bright mind. This is the fourth development of noble five-factored right concentration.
SC 8(5) “Again, a bhikkhu has grasped well the object of reviewing, attended to it well, sustained it well, and penetrated it well with wisdom. Just as one person might look upon another—as one standing might look upon one sitting down, or one sitting down might look upon one lying down—so too, a bhikkhu has grasped well the object of reviewing, attended to it well, sustained it well, and penetrated it well with wisdom. This is the fifth development of noble five-factored right concentration.
SC 9“When, bhikkhus, noble five-factored right concentration has been developed and cultivated in this way, then, there being a suitable basis, he is capable of realizing any state realizable by direct knowledge toward which he might incline his mind.
SC 10“Suppose a water jug full of water has been set out on a stand, the jug being full of water right up to the brim so that crows could drink from it. If a strong man would tip it in any direction, would water come out?”
“Yes, an.iii.28 Bhante.”
SC 11“So too, bhikkhus, when noble five-factored right concentration has been developed and cultivated in this way, then, there being a suitable basis, he is capable of realizing any state realizable by direct knowledge toward which he might incline his mind.
SC 12“Suppose on level ground there was a four-sided pond, contained by an embankment, full of water right up to the brim so that crows could drink from it. If a strong man were to remove the embankment on any side, would water come out?”
“Yes, Bhante.”
SC 13“So too, bhikkhus, when noble five-factored right concentration has been developed and cultivated in this way, then, there being a suitable basis, he is capable of realizing any state realizable by direct knowledge toward which he might incline his mind.
SC 14“Suppose on even ground at a crossroads a chariot was standing harnessed to thoroughbreds, with a goad ready at hand, so that a skillful trainer, the charioteer, could mount it, and taking the reins in his left hand and the goad in his right, might drive out and return wherever and whenever he likes. So too, bhikkhus, when noble five-factored right concentration has been developed and cultivated in this way, then, there being a suitable basis, he is capable of realizing any state realizable by direct knowledge toward which he might incline his mind.
SC 15“If he wishes: ‘May I wield the various kinds of psychic potency: an.iii.29 having been one, may I become many … here and below as in 5:23 … may I exercise mastery with the body as far as the brahmā world,’ he is capable of realizing it, there being a suitable basis.
SC 16“If he wishes: ‘May I, with the divine ear element, which is purified and surpasses the human, hear both kinds of sounds, the divine and human, those that are far as well as near,’ he is capable of realizing it, there being a suitable basis.
SC 17“If he wishes: ‘May I understand the minds of other beings and persons, having encompassed them with my own mind. May I understand … an unliberated mind as unliberated,’ he is capable of realizing it, there being a suitable basis.
SC 18“If he wishes: ‘May I recollect my manifold past abodes … with their aspects and details,’ he is capable of realizing it, there being a suitable basis.
SC 19“If he wishes: ‘May I, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, see beings passing away and being reborn … and understand how beings fare in accordance with their kamma,’ he is capable of realizing it, there being a suitable basis.
SC 20“If he wishes: ‘May I, with the destruction of the taints, in this very life realize for myself with direct knowledge the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, may I dwell in it,’ he is capable of realizing it, there being a suitable basis.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần. Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, như thế nào là sự tu tập Thánh chánh định gồm có năm chi phần?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục… chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất với tầm, với tứ. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
TTC 3Ví như, này các Tỷ-kheo, như một người hầu tắm hay đệ tử hầu tắm, sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước. Cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, trào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho dung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ nhất về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo làm cho tịnh chỉ tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Vị ấy thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
TTC 5Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước, nước tự dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nuớc ấy phun ra, thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân này với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
Ðây là sự tu tập thứ hai về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba. Vị Tỷ-kheo ấy thấm nhuần với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
TTC 7Ví như, này các Tỷ-kheo, trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay sen trắng, những bông hoa ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần, tẩm ướt, tràn đầy thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân này với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ ba về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm, thanh tịnh. Tỷ-kheo ấy ngồi thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
TTC 9Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngồi người dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che phủ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngồi thấm nhuần toàn thân này với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ tư về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được vị Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
TTC 11Ví như, này các Tỷ-kheo, một người quán sát một người khác, người đứng quán sát người ngồi, hay người ngồi quán sát người nằm. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, quán sát tướng được Tỷ-kheo khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thế nhập với trí tuệ.
Này các Tỷ-kheo, đây là sự tu tập thứ năm về Thánh chánh định gồm có năm chi phần.
Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 12Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái ghè nước đặt trên một cái giá, ghè ấy đựng đầy nước, tràn đầy đến nỗi con quạ có thể uống được. Và một người có sức mạnh đến lắc qua lắc lại cái ghè ấy, như vậy nước có đổ ra chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập như vậy, Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 13Ví như, này các Tỷ-kheo, một hồ nước trên một khoảnh đất bằng, bốn góc có bờ đê đắp cao đầy tràn nước đến nỗi con quạ có thể uống được. Rồi một người có sức mạnh đến tháo bờ đê chỗ này chỗ kia, như vậy nước có đổ ra chăng?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tu tập như vậy… dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 14Ví như, này các Tỷ-kheo, trên đất bằng, tại chỗ ngã tư, có một chiếc xe đang đậu, thắng với ngựa thuần chủng, có gậy thúc ngựa đặt ngang sẵn sàng. Có người huấn luyện ngựa thiện xảo, người đánh xe điều ngự các con ngựa đáng được điều ngự, leo lên xe ấy, tay trái nắm lấy dây cương tay mặt cầm lấy gậy thúc ngựa, có thể đánh xe ngựa ấy đi tới đi lui tại chỗ nào và như thế nào theo ý mình muốn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như vậy, Thánh chánh định gồm có năm chi phần được làm cho sung mãn như vậy, tùy thuộc theo pháp gì cần phải được giác ngộ với thắng trí, tâm vị ấy hướng đến để được giác ngộ với thắng trí. Tại đấy, tại đấy vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến pháp ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 15Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân… “ (như trên, số 23, mục 6)… dầu thuộc loại xứ nào.
TTC 16Nếu vị ấy ước muốn: “Thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân… “ (như trên, số 23, mục 7)
TTC 17Nếu vị ấy ước muốn: “Mong rằng với tâm của mình có thể hiểu biết được tâm của các loại chúng sanh khác… “ (như trên, số 23, mục 8)…
TTC 18Nếu vị ấy ước muốn: “Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời… “ (như trên, số 23, mục 9)…
TTC 19Nếu vị ấy ước muốn: “Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, ta thấy sự sống chết của chúng sanh… “ (như trên, số 23, mục 10)
TTC 20Nếu vị ấy ước muốn: “Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thắng trí ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng, có năng lực đạt đến trạng thái ấy, dầu thuộc loại xứ nào.
“Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa bhāvanaṁ desessāmi.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Katamā ca, bhikkhave, ariyassa pañcaṅgikassa sammāsamādhissa bhāvanā?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati; nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho nhāpako vā nhāpakantevāsī vā kaṁsathāle nhānīyacuṇṇāni ākiritvā udakena paripphosakaṁ paripphosakaṁ sanneyya. Sāyaṁ nhānīyapiṇḍi snehānugatā snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena, na ca paggharinī.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ vivekajena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ paṭhamā bhāvanā.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, udakarahado gambhīro ubbhidodako. Tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na pacchimāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṁ, na dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṁ, devo ca kālena kālaṁ sammā dhāraṁ nānuppaveccheyya.
Atha kho tamhāva udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṁ sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya paripphareyya; nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena pītisukhena apphuṭaṁ hoti.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ dutiyā bhāvanā.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, uppaliniyaṁ vā paduminiyaṁ vā puṇḍarīkiniyaṁ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṁvaḍḍhāni udakānuggatāni anto nimuggaposīni.
Tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā abhisannāni parisannāni paripūrāni paripphuṭāni;
nāssa kiñci sabbāvataṁ uppalānaṁ vā padumānaṁ vā puṇḍarīkānaṁ vā sītena vārinā apphuṭaṁ assa.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṁ hoti.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ tatiyā bhāvanā.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
So imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso odātena vatthena sasīsaṁ pārupitvā nisinno assa;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena vatthena apphuṭaṁ assa.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu imameva kāyaṁ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti;
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṁ hoti.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ catutthā bhāvanā.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇānimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya.
Seyyathāpi, bhikkhave, aññova aññaṁ paccavekkheyya, ṭhito vā nisinnaṁ paccavekkheyya, nisinno vā nipannaṁ paccavekkheyya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇānimittaṁ suggahitaṁ hoti sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ suppaṭividdhaṁ paññāya.
Ariyassa, bhikkhave, pañcaṅgikassa sammāsamādhissa ayaṁ pañcamā bhāvanā.
Evaṁ bhāvite kho, bhikkhave, bhikkhu ariye pañcaṅgike sammāsamādhimhi evaṁ bahulīkate yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
Seyyathāpi, bhikkhave, udakamaṇiko ādhāre ṭhapito pūro udakassa samatittiko kākapeyyo.
Tamenaṁ balavā puriso yato yato āvajjeyya, āgaccheyya udakan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ bhāvite ariye pañcaṅgike sammāsamādhimhi evaṁ bahulīkate yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya, tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
Seyyathāpi, bhikkhave, same bhūmibhāge pokkharaṇī caturaṁsā ālibaddhā pūrā udakassa samatittikā kākapeyyā.
Tamenaṁ balavā puriso yato yato āliṁ muñceyya, āgaccheyya udakan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ bhāvite ariye pañcaṅgike sammāsamādhimhi evaṁ bahulīkate yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa …pe… sati sati āyatane.
Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṁ catumahāpathe ājaññaratho yutto assa ṭhito odhastapatodo.
Tamenaṁ dakkho yoggācariyo assadammasārathi abhiruhitvā vāmena hatthena rasmiyo gahetvā dakkhiṇena hatthena patodaṁ gahetvā yenicchakaṁ yadicchakaṁ sāreyyapi paccāsāreyyapi.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁ bhāvite ariye pañcaṅgike sammāsamādhimhi evaṁ bahulīkate yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmeti abhiññāsacchikiriyāya,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhaveyyaṁ—ekopi hutvā bahudhā assaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇeyyaṁ—dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘parasattānaṁ parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajāneyyaṁ—
sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
vītarāgaṁ vā cittaṁ vītarāgaṁ cittanti pajāneyyaṁ,
sadosaṁ vā cittaṁ …
vītadosaṁ vā cittaṁ …
samohaṁ vā cittaṁ …
vītamohaṁ vā cittaṁ …
saṅkhittaṁ vā cittaṁ …
vikkhittaṁ vā cittaṁ …
mahaggataṁ vā cittaṁ …
amahaggataṁ vā cittaṁ …
sauttaraṁ vā cittaṁ …
anuttaraṁ vā cittaṁ …
samāhitaṁ vā cittaṁ …
asamāhitaṁ vā cittaṁ …
vimuttaṁ vā cittaṁ …
avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajāneyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyaṁ, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ, dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena …pe… yathākammūpage satte pajāneyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhati: ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane”ti.
Aṭṭhamaṁ.