TTC 1—Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vị biết pháp, biết nghĩa, biết tự ngã, biết ước lượng, biết thời, biết hội chúng, biết người thắng kẻ liệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết pháp?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết pháp: Khế Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Pháp chưa từng có, Phương quảng. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết pháp: Khế kinh, Ứng tụng… Phương quảng, vị ấy ở đây không được gọi là vị biết pháp. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết pháp: Khế kinh, Ứng tụng… Phương quảng; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết pháp. Như vậy là biết pháp. Thế nào là biết nghĩa?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là vị biết nghĩa. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết nghĩa. Ðây là biết pháp, biết nghĩa. Thế nào là tự biết?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự biết; “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết tự ngã như vầy: “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là vị biết tự ngã. Nếu Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, biết tự ngã: “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết tự ngã. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết. Và thế nào là biết ước lượng?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ước lượng (vừa đủ) trong khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết ước lượng vừa đủ khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, thời vị ấy ở đây không được gọi là vị biết ước lượng vừa đủ. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết ước lượng vừa đủ khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; do vậy vị ấy được gọi là vị biết ước lượng vừa đủ. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết ước lượng. Và thế nào là biết thời?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết thời: “Ðây là thời để tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết thời: “Ðây là thời tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”, thời ở đây, vị ấy được gọi là không biết thời. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết thời: Ðây là thời tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết thời. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết vừa đủ, biết thời. Và thế nào là biết hội chúng?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là “Vị biết hội chúng”. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”; do vậy, được gọi là “Vị biết hội chúng”. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết vừa đủ, biết thời, biết hội chúng. Và thế nào là biết người thắng liệt?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai hạng: một hạng ưa thấy các bậc Thánh, một hạng không ưa thấy các bậc Thánh. Người này không ưa thấy các bậc Thánh, do có việc ấy, đáng bị quở trách. Còn người này ưa thấy các bậc Thánh, do việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe diệu pháp: một hạng người ưa nghe diệu pháp, một hạng người không ưa nghe diệu pháp. Hạng người này không ưa nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này ưa nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe diệu pháp: một hạng người lắng tai nghe diệu pháp, một hạng người không lắng tai nghe diệu pháp. Hạng người này không lắng tai nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này lắng tai nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người lắng tai nghe pháp: một hạng người nghe xong, thọ trì pháp; một hạng người nghe xong, không thọ trì pháp. Người này nghe xong không thọ trì pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Người này nghe xong thọ trì pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe xong thọ trì pháp: một hạng người quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, một hạng người không quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì. Hạng người này không quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, do sự việc ấy, đáng được quở trách. Hạng người này quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì: một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, đã thực hành pháp; tùy pháp; một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Hạng người này sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, không thực hành pháp, tùy pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp đã thực hành pháp; tùy pháp: một hạng người thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha; một hạng người thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai hạng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết hạng người thắng liệt.
Do thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
“Sattahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Katamehi sattahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaññū ca hoti atthaññū ca attaññū ca mattaññū ca kālaññū ca parisaññū ca puggalaparoparaññū ca.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu dhammaññū hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jānāti—
suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthaṁ udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ.
No ce, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jāneyya—
suttaṁ geyyaṁ …pe… abbhutadhammaṁ vedallaṁ, nayidha ‘dhammaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jānāti—
suttaṁ geyyaṁ …pe… abbhutadhammaṁ vedallaṁ, tasmā ‘dhammaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū.
Atthaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jānāti:
‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti.
No ce, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jāneyya:
‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti, nayidha ‘atthaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jānāti:
‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti, tasmā ‘atthaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū.
Attaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jānāti:
‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti.
No ce, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jāneyya:
‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti, nayidha ‘attaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jānāti:
‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti, tasmā ‘attaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū.
Mattaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jānāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya.
No ce, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jāneyya cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya, nayidha ‘mattaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jānāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya, tasmā ‘mattaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū.
Kālaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jānāti:
‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti.
No ce, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jāneyya:
‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti, nayidha ‘kālaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jānāti:
‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti, tasmā ‘kālaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū, kālaññū.
Parisaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jānāti:
‘ayaṁ khattiyaparisā, ayaṁ brāhmaṇaparisā, ayaṁ gahapatiparisā, ayaṁ samaṇaparisā.
Tattha evaṁ upasaṅkamitabbaṁ, evaṁ ṭhātabbaṁ, evaṁ kattabbaṁ, evaṁ nisīditabbaṁ, evaṁ bhāsitabbaṁ, evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti.
No ce, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jāneyya:
‘ayaṁ khattiyaparisā …pe…
evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti, nayidha ‘parisaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jānāti:
‘ayaṁ khattiyaparisā, ayaṁ brāhmaṇaparisā, ayaṁ gahapatiparisā, ayaṁ samaṇaparisā.
Tattha evaṁ upasaṅkamitabbaṁ, evaṁ ṭhātabbaṁ, evaṁ kattabbaṁ, evaṁ nisīditabbaṁ, evaṁ bhāsitabbaṁ, evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti, tasmā ‘parisaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū, kālaññū, parisaññū.
Puggalaparoparaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno dvayena puggalā viditā honti.
Dve puggalā—
eko ariyānaṁ dassanakāmo, eko ariyānaṁ na dassanakāmo.
Yvāyaṁ puggalo ariyānaṁ na dassanakāmo,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo ariyānaṁ dassanakāmo,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .1
Dve puggalā ariyānaṁ dassanakāmā—
eko saddhammaṁ sotukāmo, eko saddhammaṁ na sotukāmo.
Yvāyaṁ puggalo saddhammaṁ na sotukāmo,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo saddhammaṁ sotukāmo,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .2
Dve puggalā saddhammaṁ sotukāmā—
eko ohitasoto dhammaṁ suṇāti, eko anohitasoto dhammaṁ suṇāti.
Yvāyaṁ puggalo anohitasoto dhammaṁ suṇāti,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo ohitasoto dhammaṁ suṇāti,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .3
Dve puggalā ohitasotā dhammaṁ suṇanti—
eko sutvā dhammaṁ dhāreti, eko sutvā dhammaṁ na dhāreti.
Yvāyaṁ puggalo sutvā na dhammaṁ dhāreti,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo sutvā dhammaṁ dhāreti,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .4
Dve puggalā sutvā dhammaṁ dhārenti—
eko dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati, eko dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ na upaparikkhati.
Yvāyaṁ puggalo dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ na upaparikkhati,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .5
Dve puggalā dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhanti—
eko atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno, eko atthamaññāya dhammamaññāya na dhammānudhammappaṭipanno.
Yvāyaṁ puggalo atthamaññāya dhammamaññāya na dhammānudhammappaṭipanno,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .6
Dve puggalā atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipannā—
eko attahitāya paṭipanno no parahitāya, eko attahitāya ca paṭipanno parahitāya ca.
Yvāyaṁ puggalo attahitāya paṭipanno no parahitāya,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo attahitāya ca paṭipanno parahitāya ca,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .7
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno dvayena puggalā viditā honti.
Evaṁ, bhikkhave, bhikkhu puggalaparoparaññū hoti.
Imehi kho, bhikkhave, sattahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Catutthaṁ.
“And how is a monk one with a sense of Dhamma? There is the case where a monk knows the Dhamma: dialogues, narratives of mixed prose and verse, explanations, verses, spontaneous exclamations, quotations, birth stories, amazing events, question & answer sessions. If he didn’t know the Dhamma—dialogues, narratives of mixed prose and verse, explanations, verses, spontaneous exclamations, quotations, birth stories, amazing events, question & answer sessions—he wouldn’t be said to be one with a sense of Dhamma. So it’s because he does know the Dhamma—dialogues… question & answer sessions—that he is said to be one with a sense of Dhamma. This is one with a sense of Dhamma.
“And how is a monk one with a sense of meaning? There is the case where a monk knows the meaning of this & that statement—’This is the meaning of that statement; that is the meaning of this.’ If he didn’t know the meaning of this & that statement—’This is the meaning of that statement; that is the meaning of this’—he wouldn’t be said to be one with a sense of meaning. So it’s because he does know the meaning of this & that statement—’This is the meaning of that statement; that is the meaning of this’—that he is said to be one with a sense of meaning. This is one with a sense of Dhamma & a sense of meaning.
“And how is a monk one with a sense of himself? There is the case where a monk knows himself: ‘This is how far I have come in conviction, virtue, learning, liberality, discernment, quick-wittedness.’ If he didn’t know himself—’This is how far I have come in conviction, virtue, learning, liberality, discernment, quick-wittedness’—he wouldn’t be said to be one with a sense of himself. So it’s because he does know himself—’This is how far I have come in conviction, virtue, learning, liberality, discernment, quick-wittedness’—that he is said to be one with a sense of himself. This is one with a sense of Dhamma, a sense of meaning, & a sense of himself.
“And how is a monk one with a sense of moderation? There is the case where a monk knows moderation in accepting robes, almsfood, lodgings, & medicinal requisites for curing the sick. If he didn’t know moderation in accepting robes, almsfood, lodgings, & medicinal requisites for curing the sick, he wouldn’t be said to be one with a sense of moderation. So it’s because he does know moderation in accepting robes, almsfood, lodgings, & medicinal requisites for curing the sick, that he is said to be one with a sense of moderation. This is one with a sense of Dhamma, a sense of meaning, a sense of himself, & a sense of moderation.
“And how is a monk one with a sense of time? There is the case where a monk knows the time: ‘This is the time for recitation; this, the time for questioning; this, the time for making an effort [in meditation]; this, the time for seclusion.’ If he didn’t know the time—’This is the time for recitation; this, the time for questioning; this, the time for making an effort; this, the time for seclusion’—he wouldn’t be said to be one with a sense of time. So it’s because he does know the time—’This is the time for recitation; this, the time for questioning; this, the time for making an effort; this, the time for seclusion’—that he is said to be one with a sense of time. This is one with a sense of Dhamma, a sense of meaning, a sense of himself, a sense of moderation, & a sense of time.
“And how is a monk one with a sense of social gatherings? There is the case where a monk knows his social gathering: ‘This is a social gathering of noble warriors; this, a social gathering of brahmans; this, a social gathering of householders; this, a social gathering of contemplatives; here one should approach them in this way, stand in this way, act in this way, sit in this way, speak in this way, stay silent in this way.’ If he didn’t know his social gathering—’This is a social gathering of noble warriors; this, a social gathering of brahmans; this, a social gathering of householders; this, a social gathering of contemplatives; here one should approach them in this way, stand in this way, act in this way, sit in this way, speak in this way, stay silent in this way’—he wouldn’t be said to be one with a sense of social gatherings. So it’s because he does know his social gathering—’This is a social gathering of noble warriors; this, a social gathering of brahmans; this, a social gathering of householders; this, a social gathering of contemplatives; here one should approach them in this way, stand in this way, act in this way, sit in this way, speak in this way, stay silent in this way’—that he is said to be one with a sense of social gatherings. This is one with a sense of Dhamma, a sense of meaning, a sense of himself, a sense of moderation, a sense of time, & a sense of social gatherings.
“And how is a monk one with a sense of distinctions among individuals? There is the case where people are known to a monk in terms of two categories.
“Of two people—one who wants to see noble ones and one who doesn’t—the one who doesn’t want to see noble ones is to be criticized for that reason, the one who does want to see noble ones is, for that reason, to be praised.
“Of two people who want to see noble ones—one who wants to hear the true Dhamma and one who doesn’t—the one who doesn’t want to hear the true Dhamma is to be criticized for that reason, the one who does want to hear the true Dhamma is, for that reason, to be praised.
“Of two people who want to hear the true Dhamma—one who listens with an attentive ear and one who listens without an attentive ear—the one who listens without an attentive ear is to be criticized for that reason, the one who listens with an attentive ear is, for that reason, to be praised.
“Of two people who listen with an attentive ear—one who, having listened to the Dhamma, remembers it, and one who doesn’t—the one who, having listened to the Dhamma, doesn’t remember it is to be criticized for that reason, the one who, having listened to the Dhamma, does remember the Dhamma is, for that reason, to be praised.
“Of two people who, having listened to the Dhamma, remember it—one who explores the meaning of the Dhamma he has remembered and one who doesn’t—the one who doesn’t explore the meaning of the Dhamma he has remembered is to be criticized for that reason, the one who does explore the meaning of the Dhamma he has remembered is, for that reason, to be praised.
“Of two people who explore the meaning of the Dhamma they have remembered—one who practices the Dhamma in line with the Dhamma, having a sense of Dhamma, having a sense of meaning, and one who doesn’t—the one who doesn’t practice the Dhamma in line with the Dhamma, having a sense of Dhamma, having a sense of meaning, is to be criticized for that reason, the one who does practice the Dhamma in line with the Dhamma, having a sense of Dhamma, having a sense of meaning is, for that reason, to be praised.
“Of two people who practice the Dhamma in line with the Dhamma, having a sense of Dhamma, having a sense of meaning—one who practices for both his own benefit and that of others, and one who practices for his own benefit but not that of others—the one who practices for his own benefit but not that of others is to be criticized for that reason, the one who practices for both his own benefit and that of others is, for that reason, to be praised.
“This is how people are known to a monk in terms of two categories. And this is how a monk is one with a sense of distinctions among individuals.
“A monk endowed with these seven qualities is worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of respect, an unexcelled field of merit for the world.”
TTC 1—Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vị biết pháp, biết nghĩa, biết tự ngã, biết ước lượng, biết thời, biết hội chúng, biết người thắng kẻ liệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo biết pháp?
TTC 3Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết pháp: Khế Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Pháp chưa từng có, Phương quảng. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết pháp: Khế kinh, Ứng tụng… Phương quảng, vị ấy ở đây không được gọi là vị biết pháp. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết pháp: Khế kinh, Ứng tụng… Phương quảng; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết pháp. Như vậy là biết pháp. Thế nào là biết nghĩa?
TTC 4Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là vị biết nghĩa. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia: “Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói này”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết nghĩa. Ðây là biết pháp, biết nghĩa. Thế nào là tự biết?
TTC 5Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự biết; “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết tự ngã như vầy: “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là vị biết tự ngã. Nếu Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, biết tự ngã: “Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết tự ngã. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết. Và thế nào là biết ước lượng?
TTC 6Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ước lượng (vừa đủ) trong khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết ước lượng vừa đủ khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, thời vị ấy ở đây không được gọi là vị biết ước lượng vừa đủ. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết ước lượng vừa đủ khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; do vậy vị ấy được gọi là vị biết ước lượng vừa đủ. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết ước lượng. Và thế nào là biết thời?
TTC 7Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết thời: “Ðây là thời để tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết thời: “Ðây là thời tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”, thời ở đây, vị ấy được gọi là không biết thời. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết thời: Ðây là thời tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh”; do vậy, vị ấy được gọi là vị biết thời. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết vừa đủ, biết thời. Và thế nào là biết hội chúng?
TTC 8Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”, thời ở đây, vị ấy không được gọi là “Vị biết hội chúng”. Và này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo biết hội chúng: “Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy”; do vậy, được gọi là “Vị biết hội chúng”. Ðây là biết pháp, biết nghĩa, tự biết, biết vừa đủ, biết thời, biết hội chúng. Và thế nào là biết người thắng liệt?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, với vị Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai hạng: một hạng ưa thấy các bậc Thánh, một hạng không ưa thấy các bậc Thánh. Người này không ưa thấy các bậc Thánh, do có việc ấy, đáng bị quở trách. Còn người này ưa thấy các bậc Thánh, do việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe diệu pháp: một hạng người ưa nghe diệu pháp, một hạng người không ưa nghe diệu pháp. Hạng người này không ưa nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này ưa nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe diệu pháp: một hạng người lắng tai nghe diệu pháp, một hạng người không lắng tai nghe diệu pháp. Hạng người này không lắng tai nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này lắng tai nghe diệu pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người lắng tai nghe pháp: một hạng người nghe xong, thọ trì pháp; một hạng người nghe xong, không thọ trì pháp. Người này nghe xong không thọ trì pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Người này nghe xong thọ trì pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người nghe xong thọ trì pháp: một hạng người quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, một hạng người không quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì. Hạng người này không quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, do sự việc ấy, đáng được quở trách. Hạng người này quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người quán sát ý nghĩa các pháp được thọ trì: một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, đã thực hành pháp; tùy pháp; một hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, không thực hành pháp, tùy pháp. Hạng người này sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, không thực hành pháp, tùy pháp, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp, thực hành pháp, tùy pháp, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Có hai hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp đã thực hành pháp; tùy pháp: một hạng người thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha; một hạng người thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha, do sự việc ấy, đáng được tán thán. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo, loài Người được biết theo hai hạng. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo biết hạng người thắng liệt.
Do thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
“Sattahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Katamehi sattahi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaññū ca hoti atthaññū ca attaññū ca mattaññū ca kālaññū ca parisaññū ca puggalaparoparaññū ca.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu dhammaññū hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jānāti—
suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthaṁ udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ.
No ce, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jāneyya—
suttaṁ geyyaṁ …pe… abbhutadhammaṁ vedallaṁ, nayidha ‘dhammaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jānāti—
suttaṁ geyyaṁ …pe… abbhutadhammaṁ vedallaṁ, tasmā ‘dhammaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū.
Atthaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jānāti:
‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti.
No ce, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jāneyya:
‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti, nayidha ‘atthaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu tassa tasseva bhāsitassa atthaṁ jānāti:
‘ayaṁ imassa bhāsitassa attho, ayaṁ imassa bhāsitassa attho’ti, tasmā ‘atthaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū.
Attaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jānāti:
‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti.
No ce, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jāneyya:
‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti, nayidha ‘attaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jānāti:
‘ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā’ti, tasmā ‘attaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū.
Mattaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jānāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya.
No ce, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jāneyya cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya, nayidha ‘mattaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jānāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya, tasmā ‘mattaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū.
Kālaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jānāti:
‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti.
No ce, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jāneyya:
‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti, nayidha ‘kālaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jānāti:
‘ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā’ti, tasmā ‘kālaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū, kālaññū.
Parisaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jānāti:
‘ayaṁ khattiyaparisā, ayaṁ brāhmaṇaparisā, ayaṁ gahapatiparisā, ayaṁ samaṇaparisā.
Tattha evaṁ upasaṅkamitabbaṁ, evaṁ ṭhātabbaṁ, evaṁ kattabbaṁ, evaṁ nisīditabbaṁ, evaṁ bhāsitabbaṁ, evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti.
No ce, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jāneyya:
‘ayaṁ khattiyaparisā …pe…
evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti, nayidha ‘parisaññū’ti vucceyya.
Yasmā ca kho, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jānāti:
‘ayaṁ khattiyaparisā, ayaṁ brāhmaṇaparisā, ayaṁ gahapatiparisā, ayaṁ samaṇaparisā.
Tattha evaṁ upasaṅkamitabbaṁ, evaṁ ṭhātabbaṁ, evaṁ kattabbaṁ, evaṁ nisīditabbaṁ, evaṁ bhāsitabbaṁ, evaṁ tuṇhī bhavitabban’ti, tasmā ‘parisaññū’ti vuccati.
Iti dhammaññū, atthaññū, attaññū, mattaññū, kālaññū, parisaññū.
Puggalaparoparaññū ca kathaṁ hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno dvayena puggalā viditā honti.
Dve puggalā—
eko ariyānaṁ dassanakāmo, eko ariyānaṁ na dassanakāmo.
Yvāyaṁ puggalo ariyānaṁ na dassanakāmo,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo ariyānaṁ dassanakāmo,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .1
Dve puggalā ariyānaṁ dassanakāmā—
eko saddhammaṁ sotukāmo, eko saddhammaṁ na sotukāmo.
Yvāyaṁ puggalo saddhammaṁ na sotukāmo,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo saddhammaṁ sotukāmo,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .2
Dve puggalā saddhammaṁ sotukāmā—
eko ohitasoto dhammaṁ suṇāti, eko anohitasoto dhammaṁ suṇāti.
Yvāyaṁ puggalo anohitasoto dhammaṁ suṇāti,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo ohitasoto dhammaṁ suṇāti,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .3
Dve puggalā ohitasotā dhammaṁ suṇanti—
eko sutvā dhammaṁ dhāreti, eko sutvā dhammaṁ na dhāreti.
Yvāyaṁ puggalo sutvā na dhammaṁ dhāreti,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo sutvā dhammaṁ dhāreti,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .4
Dve puggalā sutvā dhammaṁ dhārenti—
eko dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati, eko dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ na upaparikkhati.
Yvāyaṁ puggalo dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ na upaparikkhati,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhati,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .5
Dve puggalā dhātānaṁ dhammānaṁ atthaṁ upaparikkhanti—
eko atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno, eko atthamaññāya dhammamaññāya na dhammānudhammappaṭipanno.
Yvāyaṁ puggalo atthamaññāya dhammamaññāya na dhammānudhammappaṭipanno,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .6
Dve puggalā atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipannā—
eko attahitāya paṭipanno no parahitāya, eko attahitāya ca paṭipanno parahitāya ca.
Yvāyaṁ puggalo attahitāya paṭipanno no parahitāya,
evaṁ so tenaṅgena gārayho.
Yvāyaṁ puggalo attahitāya ca paṭipanno parahitāya ca,
evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso. .7
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno dvayena puggalā viditā honti.
Evaṁ, bhikkhave, bhikkhu puggalaparoparaññū hoti.
Imehi kho, bhikkhave, sattahi dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā”ti.
Catutthaṁ.