TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm hạng người ăn từ bình bát này. Thế nào là năm?
TTC 2Hạng đần độn ngu si ăn từ bình bát; hạng ác dục ác tánh ăn từ bình bát; hạng kiêu mạn loạn tâm ăn từ bình bát; hạng ăn từ bình bát vì được nghe Thế Tôn và các đệ tử Phật tán thán; hạng vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này ăn từ bình bát.
Này các Tỷ-kheo, có năm hạng người ăn từ bình bát này.
TTC 3Trong năm hạng người này ăn từ bình bát này, này các Tỷ-kheo, hạng ăn từ bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này ăn từ bình bát. Hạng người này trong năm hạng người ấy là đệ nhất, là tối thắng, là thượng thủ, là tối thượng, là tối diệu.
Ví như này các Tỷ-kheo, từ con bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô có thục tô, từ thục tô có đề hồ. Ðây được gọi là đệ nhất. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong năm hạng người này ăn từ bình bát, này các Tỷ-kheo, hạng ăn từ bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này ăn từ bình bát. Hạng người này trong năm hạng người ấy là đệ nhất, là tối thắng, là thượng thủ, là tối thượng, là tối diệu.
“Pañcime, bhikkhave, pattapiṇḍikā.
Katame pañca?
Mandattā momūhattā pattapiṇḍiko hoti, pāpiccho icchāpakato pattapiṇḍiko hoti, ummādā cittakkhepā pattapiṇḍiko hoti, ‘vaṇṇitaṁ buddhehi buddhasāvakehī’ti pattapiṇḍiko hoti, appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya pattapiṇḍiko hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca pattapiṇḍikā.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ pattapiṇḍikānaṁ yvāyaṁ pattapiṇḍiko appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya pattapiṇḍiko hoti, ayaṁ imesaṁ pañcannaṁ pattapiṇḍikānaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo, sappimaṇḍo tattha aggamakkhāyati;
evamevaṁ kho, bhikkhave, imesaṁ pañcannaṁ pattapiṇḍikānaṁ yvāyaṁ pattapiṇḍiko appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya pattapiṇḍiko hoti, ayaṁ imesaṁ pañcannaṁ pattapiṇḍikānaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro cā”ti.
Dasamaṁ.
Araññavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Araññaṁ cīvaraṁ rukkha,
Susānaṁ abbhokāsikaṁ;
Nesajjaṁ santhataṁ ekāsanikaṁ,
Khalupacchāpiṇḍikena cāti.
“Mendicants, these five eat only from the almsbowl.
What five?
One may eat only from the almsbowl because of stupidity and folly. Or because of corrupt wishes, being of wishful temperament. Or because of madness and mental disorder. Or because it is praised by the Buddhas and their disciples. Or for the sake of having few wishes, for the sake of contentment, self-effacement, seclusion, and simplicity.
These are the five who eat only from the almsbowl.
But the person who eats only from the almsbowl for the sake of having few wishes is the foremost, best, chief, highest, and finest of the five.
From a cow comes milk, from milk comes curds, from curds come butter, from butter comes ghee, and from ghee comes cream of ghee. And the cream of ghee is said to be the best of these.
In the same way, the one who eats only from the almsbowl for the sake of having few wishes is the foremost, best, chief, highest, and finest of the five.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm hạng người ăn từ bình bát này. Thế nào là năm?
TTC 2Hạng đần độn ngu si ăn từ bình bát; hạng ác dục ác tánh ăn từ bình bát; hạng kiêu mạn loạn tâm ăn từ bình bát; hạng ăn từ bình bát vì được nghe Thế Tôn và các đệ tử Phật tán thán; hạng vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này ăn từ bình bát.
Này các Tỷ-kheo, có năm hạng người ăn từ bình bát này.
TTC 3Trong năm hạng người này ăn từ bình bát này, này các Tỷ-kheo, hạng ăn từ bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này ăn từ bình bát. Hạng người này trong năm hạng người ấy là đệ nhất, là tối thắng, là thượng thủ, là tối thượng, là tối diệu.
Ví như này các Tỷ-kheo, từ con bò có sữa, từ sữa có lạc, từ lạc có sanh tô, từ sanh tô có thục tô, từ thục tô có đề hồ. Ðây được gọi là đệ nhất. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong năm hạng người này ăn từ bình bát, này các Tỷ-kheo, hạng ăn từ bình bát vì ít dục, vì biết đủ, vì đoạn giảm, vì viễn ly, vì cầu thiện hành này ăn từ bình bát. Hạng người này trong năm hạng người ấy là đệ nhất, là tối thắng, là thượng thủ, là tối thượng, là tối diệu.
“Pañcime, bhikkhave, pattapiṇḍikā.
Katame pañca?
Mandattā momūhattā pattapiṇḍiko hoti, pāpiccho icchāpakato pattapiṇḍiko hoti, ummādā cittakkhepā pattapiṇḍiko hoti, ‘vaṇṇitaṁ buddhehi buddhasāvakehī’ti pattapiṇḍiko hoti, appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya pattapiṇḍiko hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca pattapiṇḍikā.
Imesaṁ kho, bhikkhave, pañcannaṁ pattapiṇḍikānaṁ yvāyaṁ pattapiṇḍiko appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya pattapiṇḍiko hoti, ayaṁ imesaṁ pañcannaṁ pattapiṇḍikānaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro ca.
Seyyathāpi, bhikkhave, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo, sappimaṇḍo tattha aggamakkhāyati;
evamevaṁ kho, bhikkhave, imesaṁ pañcannaṁ pattapiṇḍikānaṁ yvāyaṁ pattapiṇḍiko appicchataṁyeva nissāya santuṭṭhiṁyeva nissāya sallekhaṁyeva nissāya pavivekaṁyeva nissāya idamatthitaṁyeva nissāya pattapiṇḍiko hoti, ayaṁ imesaṁ pañcannaṁ pattapiṇḍikānaṁ aggo ca seṭṭho ca mokkho ca uttamo ca pavaro cā”ti.
Dasamaṁ.
Araññavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Araññaṁ cīvaraṁ rukkha,
Susānaṁ abbhokāsikaṁ;
Nesajjaṁ santhataṁ ekāsanikaṁ,
Khalupacchāpiṇḍikena cāti.