TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Sa-môn bất động, Sa-môn sen trắng, Sa-môn sen hồng, Sa-môn tinh luyện giữa các Sa-môn.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn bất động?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị hữu học, ý chưa đạt được mục đích, đang sống hướng đến vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng Sa-môn bất động.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng Sa-môn sen trắng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc chấm dứt; đây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức chấm dứt”. Nhưng vị ấy chưa an trú với thân cảm giác tám giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng Sa-môn sen trắng.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng Sa-môn sen hồng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống, tùy quán sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc… đây là thức chấm dứt”. Và vị ấy an trú với thân cảm giác tám giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng Sa-môn sen hồng.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng Sa-môn tinh luyện giữa các Sa-môn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nhiều lần được yêu cầu nhận y, ít khi không được yêu cầu… Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, nói về hạng Sa-môn tinh luyện giữa các Sa-môn, người ấy này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói về Ta, là hạng Sa-môn tinh luyện giữa các Sa-môn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Samaṇamacalo, samaṇapuṇḍarīko, samaṇapadumo, samaṇesu samaṇasukhumālo.
Kathañca, bhikkhave, puggalo samaṇamacalo hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sekho hoti appattamānaso, anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamāno viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo samaṇamacalo hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo samaṇapuṇḍarīko hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī viharati:
‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …pe…
iti saññā …pe…
iti saṅkhārā …pe…
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti;
no ca kho aṭṭha vimokkhe kāyena phusitvā viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo samaṇapuṇḍarīko hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo samaṇapadumo hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī viharati:
‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …pe…
iti saññā …pe…
iti saṅkhārā …pe…
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti;
aṭṭha ca vimokkhe kāyena phusitvā viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo samaṇapadumo hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo samaṇesu samaṇasukhumālo hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu yācitova bahulaṁ cīvaraṁ paribhuñjati, appaṁ ayācito …pe… mameva taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya samaṇesu samaṇasukhumāloti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Dasamaṁ.
Macalavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Pāṇātipāto ca musā,
avaṇṇakodhatamoṇatā;
Putto saṁyojanañceva,
diṭṭhi khandhena te dasāti.
“Mendicants, these four individuals are found in the world.
What four?
The confirmed ascetic, the white lotus ascetic, the pink lotus ascetic, and the delicate ascetic of ascetics.
And how is an individual a confirmed ascetic?
It’s when a mendicant is a trainee who hasn’t achieved their heart’s desire, but lives aspiring to the supreme sanctuary from the yoke.
That’s how an individual is a confirmed ascetic.
And how is an individual a white lotus ascetic?
It’s when a mendicant meditates observing rise and fall in the five grasping aggregates.
‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form.
Such is feeling …
Such is perception …
Such are choices …
Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’
But they don’t have direct meditative experience of the eight liberations.
That’s how an individual is a white lotus ascetic.
And how is an individual a pink lotus ascetic?
It’s when a mendicant meditates observing rise and fall in the five grasping aggregates.
‘Such is form, such is the origin of form, such is the ending of form.
Such is feeling …
Such is perception …
Such are choices …
Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the ending of consciousness.’
And they have direct meditative experience of the eight liberations.
That’s how an individual is a pink lotus ascetic.
And how is an individual a delicate ascetic of ascetics?
It’s when a mendicant usually uses only what they’ve been invited to accept … And if anyone should be rightly called a delicate ascetic of ascetics, it’s me.
These are the four individuals found in the world.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Sa-môn bất động, Sa-môn sen trắng, Sa-môn sen hồng, Sa-môn tinh luyện giữa các Sa-môn.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn bất động?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị hữu học, ý chưa đạt được mục đích, đang sống hướng đến vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng Sa-môn bất động.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng Sa-môn sen trắng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tùy quán sự sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc, đây là sắc tập khởi, đây là sắc chấm dứt; đây là thọ… đây là tưởng… đây là các hành… đây là thức, đây là thức tập khởi, đây là thức chấm dứt”. Nhưng vị ấy chưa an trú với thân cảm giác tám giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng Sa-môn sen trắng.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng Sa-môn sen hồng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống, tùy quán sanh diệt trong năm thủ uẩn: “Ðây là sắc… đây là thức chấm dứt”. Và vị ấy an trú với thân cảm giác tám giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng Sa-môn sen hồng.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng Sa-môn tinh luyện giữa các Sa-môn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nhiều lần được yêu cầu nhận y, ít khi không được yêu cầu… Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách chơn chánh, nói về hạng Sa-môn tinh luyện giữa các Sa-môn, người ấy này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói về Ta, là hạng Sa-môn tinh luyện giữa các Sa-môn.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Samaṇamacalo, samaṇapuṇḍarīko, samaṇapadumo, samaṇesu samaṇasukhumālo.
Kathañca, bhikkhave, puggalo samaṇamacalo hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu sekho hoti appattamānaso, anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamāno viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo samaṇamacalo hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo samaṇapuṇḍarīko hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī viharati:
‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …pe…
iti saññā …pe…
iti saṅkhārā …pe…
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti;
no ca kho aṭṭha vimokkhe kāyena phusitvā viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo samaṇapuṇḍarīko hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo samaṇapadumo hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassī viharati:
‘iti rūpaṁ, iti rūpassa samudayo, iti rūpassa atthaṅgamo;
iti vedanā …pe…
iti saññā …pe…
iti saṅkhārā …pe…
iti viññāṇaṁ, iti viññāṇassa samudayo, iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti;
aṭṭha ca vimokkhe kāyena phusitvā viharati.
Evaṁ kho, bhikkhave, puggalo samaṇapadumo hoti.
Kathañca, bhikkhave, puggalo samaṇesu samaṇasukhumālo hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu yācitova bahulaṁ cīvaraṁ paribhuñjati, appaṁ ayācito …pe… mameva taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya samaṇesu samaṇasukhumāloti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Dasamaṁ.
Macalavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Pāṇātipāto ca musā,
avaṇṇakodhatamoṇatā;
Putto saṁyojanañceva,
diṭṭhi khandhena te dasāti.