TTC 1—Này các Tỷ-kheo, những ai đặt sự cứu cánh ở nơi Ta, tất cả những người ấy đầy đủ chánh kiến. Với những người đầy đủ chánh kiến ấy, năm hạng người đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Năm hạng người, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh. Và năm hạng người nào, đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây?
TTC 2Hạng trở lui nhiều nhất là bảy lần, hạng Gia gia, hạng Nhứt chủng, hạng Nhất lai, và vị nào là vị A-la-hán ngay trong hiện tại. Năm hạng người này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Và năm hạng người khác nào, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh?
TTC 3Hạng Trung gian Niết-bàn, hạng Tổn hại Niết-bàn, hạng Vô hành Niết-bàn, hạng Hữu hành Niết-bàn, hạng Thượng lưu Niết-bàn đạt được sắc cứu cánh. Với năm hạng người này, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh.
Này các Tỷ-kheo, những ai đạt sự cứu cánh ở nơi Ta, tất cả những người ấy đầy đủ chánh kiến. Trong những người đầy đủ chánh kiến, năm hạng người này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Năm hạng người này, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh.
“Ye keci, bhikkhave, mayi niṭṭhaṁ gatā sabbe te diṭṭhisampannā.
Tesaṁ diṭṭhisampannānaṁ pañcannaṁ idha niṭṭhā, pañcannaṁ idha vihāya niṭṭhā.
Katamesaṁ pañcannaṁ idha niṭṭhā?
Sattakkhattuparamassa, kolaṅkolassa, ekabījissa, sakadāgāmissa, yo ca diṭṭheva dhamme arahā—
imesaṁ pañcannaṁ idha niṭṭhā.
Katamesaṁ pañcannaṁ idha vihāya niṭṭhā?
Antarāparinibbāyissa, upahaccaparinibbāyissa, asaṅkhāraparinibbāyissa, sasaṅkhāraparinibbāyissa, uddhaṁsotassa akaniṭṭhagāmino—
imesaṁ pañcannaṁ idha vihāya niṭṭhā.
Ye keci, bhikkhave, mayi niṭṭhaṁ gatā, sabbe te diṭṭhisampannā.
Tesaṁ diṭṭhisampannānaṁ imesaṁ pañcannaṁ idha niṭṭhā, imesaṁ pañcannaṁ idha vihāya niṭṭhā”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicants, all those who have come to a conclusion about me are accomplished in view.
Of those who are accomplished in view, five conclude their path in this realm, and five conclude their path after leaving this realm behind.
Which five conclude their path in this realm?
The one who has seven rebirths at most, the one who goes from family to family, the one-seeder, the once returner, and the one who is perfected in this very life.
These five conclude their path in this realm.
Which five conclude their path after leaving this realm behind?
The one who is extinguished between one life and the next, the one who is extinguished upon landing, the one who is extinguished without extra effort, the one who is extinguished with extra effort, and the one who heads upstream, going to the Akaniṭṭha realm.
These five conclude their path after leaving this realm behind.
All those who have come to a conclusion about me are accomplished in view.
Of those who are accomplished in view, these five conclude their path in this realm, and these five conclude their path after leaving this realm behind.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, những ai đặt sự cứu cánh ở nơi Ta, tất cả những người ấy đầy đủ chánh kiến. Với những người đầy đủ chánh kiến ấy, năm hạng người đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Năm hạng người, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh. Và năm hạng người nào, đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây?
TTC 2Hạng trở lui nhiều nhất là bảy lần, hạng Gia gia, hạng Nhứt chủng, hạng Nhất lai, và vị nào là vị A-la-hán ngay trong hiện tại. Năm hạng người này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Và năm hạng người khác nào, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh?
TTC 3Hạng Trung gian Niết-bàn, hạng Tổn hại Niết-bàn, hạng Vô hành Niết-bàn, hạng Hữu hành Niết-bàn, hạng Thượng lưu Niết-bàn đạt được sắc cứu cánh. Với năm hạng người này, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh.
Này các Tỷ-kheo, những ai đạt sự cứu cánh ở nơi Ta, tất cả những người ấy đầy đủ chánh kiến. Trong những người đầy đủ chánh kiến, năm hạng người này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Năm hạng người này, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh.
“Ye keci, bhikkhave, mayi niṭṭhaṁ gatā sabbe te diṭṭhisampannā.
Tesaṁ diṭṭhisampannānaṁ pañcannaṁ idha niṭṭhā, pañcannaṁ idha vihāya niṭṭhā.
Katamesaṁ pañcannaṁ idha niṭṭhā?
Sattakkhattuparamassa, kolaṅkolassa, ekabījissa, sakadāgāmissa, yo ca diṭṭheva dhamme arahā—
imesaṁ pañcannaṁ idha niṭṭhā.
Katamesaṁ pañcannaṁ idha vihāya niṭṭhā?
Antarāparinibbāyissa, upahaccaparinibbāyissa, asaṅkhāraparinibbāyissa, sasaṅkhāraparinibbāyissa, uddhaṁsotassa akaniṭṭhagāmino—
imesaṁ pañcannaṁ idha vihāya niṭṭhā.
Ye keci, bhikkhave, mayi niṭṭhaṁ gatā, sabbe te diṭṭhisampannā.
Tesaṁ diṭṭhisampannānaṁ imesaṁ pañcannaṁ idha niṭṭhā, imesaṁ pañcannaṁ idha vihāya niṭṭhā”ti.
Tatiyaṁ.