TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangalam. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangalam, trong khóm rừng Icchànangalam.
Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam được nghe: “Sa-môn Tôn giả Gotama là Thích tử xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangalam, trú ở Icchànanagalam trong khóm rừng Icchànangalam. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: “Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn các loài Trời và Người. Sau khi đã chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”
Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.
TTC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:
—Này Nàgita, những ai đã đến, và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn?
—Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.
TTC 3—Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về cúng dường. Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Ba-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ họ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng đường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn, do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn
TTC 4—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc. Này Nàgita, với ai ăn, uống, nhai, nếm, thời đại tiện, tiểu tiện, là kết quả tất nhiên cho người ấy. Với những ai nặng nề về ái lạc, này Nàgita, sự biến hoại, đổi khác, sầu bi khổ ưu não khởi lên. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Những ai chuyên chú tâm về tướng bất tịnh, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với tịnh tướng được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán vô thường trong sáu xúc xứ, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với xúc được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán sanh diệt đối với năm thủ uẩn, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với chấp thủ được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena icchānaṅgalaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Assosuṁ kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito icchānaṅgalaṁ anuppatto; icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi, satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti’.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā tassā rattiyā accayena pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhaṁsu uccāsaddamahāsaddā.
Tena kho pana samayena āyasmā nāgito bhagavato upaṭṭhāko hoti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nāgitaṁ āmantesi:
“ke pana kho, nāgita, uccāsaddamahāsaddā, kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ete, bhante, icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya bahidvārakoṭṭhake ṭhitā bhagavantaññeva uddissa bhikkhusaṅghañcā”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
So taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyyā”ti.
“Adhivāsetu dāni, bhante, bhagavā, adhivāsetu sugato;
adhivāsanakālo dāni, bhante, bhagavato.
Yena yeneva dāni bhagavā gamissati taṁninnāva gamissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Seyyathāpi, bhante, thullaphusitake deve vassante yathāninnaṁ udakāni pavattanti;
evamevaṁ kho, bhante, yena yeneva dāni bhagavā gamissati, taṁninnāva gamissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhante, bhagavato sīlapaññāṇan”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
So taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyya.
Asitapītakhāyitasāyitassa kho, nāgita, uccārapassāvo—
eso tassa nissando.
Piyānaṁ kho, nāgita, vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā—
eso tassa nissando.
Asubhanimittānuyogaṁ anuyuttassa kho, nāgita, subhanimitte pāṭikulyatā saṇṭhāti—
eso tassa nissando.
Chasu kho, nāgita, phassāyatanesu aniccānupassino viharato phasse pāṭikulyatā saṇṭhāti—
eso tassa nissando.
Pañcasu kho, nāgita, upādānakkhandhesu udayabbayānupassino viharato upādāne pāṭikulyatā saṇṭhāti—
eso tassa nissando”ti.
Dasamaṁ.
Pañcaṅgikavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Dve agāravupakkilesā,
Dussīlānuggahitena ca;
Vimuttisamādhipañcaṅgikā,
Caṅkamaṁ nāgitena cāti.
SC 1Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was wandering on tour among the Kosalans together with a large Saṅgha of bhikkhus when he reached the Kosalan brahmin village named Icchānaṅgala. There the Blessed One dwelled in the Icchānaṅgala woodland thicket. The brahmin householders of Icchānaṅgala heard: “It is said that the ascetic Gotama, the son of the Sakyans who went forth from a Sakyan family, has arrived at Icchānaṅgala and is now dwelling in the Icchānaṅgala woodland thicket. Now a good report about that Master Gotama has circulated thus: ‘That Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed leader of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One. Having realized by his own direct knowledge this world with its devas, Māra, and Brahmā, this population with its ascetics and brahmins, its devas and humans, he makes it known to others. He teaches a Dhamma that is good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing; he reveals a spiritual life that is perfectly complete and pure.’ Now it is good to see such arahants.”
SC 2Then, when the night had passed, the brahmin householders of Icchānaṅgala took abundant food of various kinds and went to the Icchānaṅgala woodland thicket. They stood outside the entrance making an uproar and a racket. an.iii.31 Now on that occasion the Venerable Nāgita was the Blessed One’s attendant. The Blessed One addressed the Venerable Nāgita: “Who is making such an uproar and a racket, Nāgita? One would think it was fishermen at a haul of fish.”
SC 3“Bhante, these are the brahmin householders of Icchānaṅgala who have brought abundant food of various kinds. They are standing outside the entrance, wishing to offer it to the Blessed One and the Saṅgha of bhikkhus.”
SC 4“Let me never come upon fame, Nāgita, and may fame never catch up with me. One who does not gain at will, without trouble or difficulty, this bliss of renunciation, bliss of solitude, bliss of peace, bliss of enlightenment that I gain at will, without trouble or difficulty, might accept that vile pleasure, that slothful pleasure, the pleasure of gain, honor, and praise.”
SC 5“Let the Blessed One now consent, Bhante, let the Fortunate One consent. This is now the time for the Blessed One to consent. Wherever the Blessed One will go now, the brahmin householders of town and countryside will incline in the same direction. Just as, when thick drops of rain are pouring down, the water flows down along the slope, so too, wherever the Blessed One will go now, the brahmin householders of town and country will incline in the same direction. For what reason? Because of the Blessed One’s virtuous behavior and wisdom.”
SC 6“Let me never come upon fame, Nāgita, and may fame never catch up with me. One who does not gain at will, without trouble or difficulty, this bliss of renunciation … might accept that vile pleasure, that slothful pleasure, the pleasure of gain, honor, and praise. an.iii.32
SC 7(1) “Nāgita, what is eaten, drunk, consumed, and tasted winds up as feces and urine: this is its outcome. (2) From the change and alteration of things that are dear arise sorrow, lamentation, pain, dejection, and anguish: this is its outcome. (3) For one devoted to practicing meditation on the mark of unattractiveness, revulsion toward the mark of the beautiful becomes established: this is its outcome. (4) For one who dwells contemplating impermanence in the six bases for contact, revulsion toward contact becomes established: this is its outcome. (5) For one who dwells contemplating arising and vanishing in the five aggregates subject to clinging, revulsion toward clinging becomes established: this is its outcome.”
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangalam. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangalam, trong khóm rừng Icchànangalam.
Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam được nghe: “Sa-môn Tôn giả Gotama là Thích tử xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangalam, trú ở Icchànanagalam trong khóm rừng Icchànangalam. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: “Ðây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn các loài Trời và Người. Sau khi đã chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”
Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.
TTC 2Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:
—Này Nàgita, những ai đã đến, và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn?
—Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.
TTC 3—Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về cúng dường. Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Ba-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ họ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng đường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn, do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn
TTC 4—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc. Này Nàgita, với ai ăn, uống, nhai, nếm, thời đại tiện, tiểu tiện, là kết quả tất nhiên cho người ấy. Với những ai nặng nề về ái lạc, này Nàgita, sự biến hoại, đổi khác, sầu bi khổ ưu não khởi lên. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Những ai chuyên chú tâm về tướng bất tịnh, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với tịnh tướng được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán vô thường trong sáu xúc xứ, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với xúc được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán sanh diệt đối với năm thủ uẩn, này Nàgita, thời sự nhàm chán đối với chấp thủ được an trú. Ðấy là kết quả tất nhiên cho người ấy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena icchānaṅgalaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Assosuṁ kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā:
“samaṇo khalu bho gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito icchānaṅgalaṁ anuppatto; icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi, satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti’.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā tassā rattiyā accayena pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhaṁsu uccāsaddamahāsaddā.
Tena kho pana samayena āyasmā nāgito bhagavato upaṭṭhāko hoti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nāgitaṁ āmantesi:
“ke pana kho, nāgita, uccāsaddamahāsaddā, kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ete, bhante, icchānaṅgalakā brāhmaṇagahapatikā pahūtaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ ādāya bahidvārakoṭṭhake ṭhitā bhagavantaññeva uddissa bhikkhusaṅghañcā”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
So taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyyā”ti.
“Adhivāsetu dāni, bhante, bhagavā, adhivāsetu sugato;
adhivāsanakālo dāni, bhante, bhagavato.
Yena yeneva dāni bhagavā gamissati taṁninnāva gamissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Seyyathāpi, bhante, thullaphusitake deve vassante yathāninnaṁ udakāni pavattanti;
evamevaṁ kho, bhante, yena yeneva dāni bhagavā gamissati, taṁninnāva gamissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhante, bhagavato sīlapaññāṇan”ti.
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso.
Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
So taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyya.
Asitapītakhāyitasāyitassa kho, nāgita, uccārapassāvo—
eso tassa nissando.
Piyānaṁ kho, nāgita, vipariṇāmaññathābhāvā uppajjanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā—
eso tassa nissando.
Asubhanimittānuyogaṁ anuyuttassa kho, nāgita, subhanimitte pāṭikulyatā saṇṭhāti—
eso tassa nissando.
Chasu kho, nāgita, phassāyatanesu aniccānupassino viharato phasse pāṭikulyatā saṇṭhāti—
eso tassa nissando.
Pañcasu kho, nāgita, upādānakkhandhesu udayabbayānupassino viharato upādāne pāṭikulyatā saṇṭhāti—
eso tassa nissando”ti.
Dasamaṁ.
Pañcaṅgikavaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Dve agāravupakkilesā,
Dussīlānuggahitena ca;
Vimuttisamādhipañcaṅgikā,
Caṅkamaṁ nāgitena cāti.