TTC 1Bấy giờ có Tỷ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàlika bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.
—Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, đối với con Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.”
—Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
—Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlikaa, tâm hãy tịnh tín đối với Sàripuuta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: … Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
TTC 2Rồi Tỷ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi ra đi. Tỷ-kheo Kokàlika ra đi không bao lâu, toàn thân của Tỷ-kheo Kokàlika nổi lên những mụt to bằng hạt cải: sau khi lớn bằng hạt cải, chúng lớn lên bằng hột đậu; sau khi lớn lên bằng hột đậu, chúng lớn lên bằng hạt đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng hòn sỏi; sau khi lớn bằng hòn sỏi Kolatthi, chúng lớn lên bằng hột táo; sau khi lớn lên bằng hột táo, chúng lớn lên bằng trái Amala (A-ma-lặc); sau khi lớn lên bằng trái Amala, chúng lớn lên bằng trái dưa (trái vilva); sau khi lớn lên bằng trái dưa vilva, chúng lớn lên bằng trái billa (trái dưa đã chín); sau khi lớn lên bằng trái billa, chúng bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra. Tại đây, nó nằm trên lá chuối, như con cá ăn phải đồ độc.
TTC 3Lúc ấy có độc giác Phạm thiên Tudu đi đến Tỷ-kheo Kokàlika, sau khi đến, đứng trên hư không và nói với Tỷ-kheo Kokàlika:
—Này Kokàlika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sàriputta và Moggallàna! Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
—Ông là ai?
—Ta là độc giác Phạm thiên Tudu.
—Thưa Hiền giả, có phải Hiền giả là người được Thế Tôn trả lời là đã chứng Bất lai? Sao người lại đến đây? Hãy xem như thế nào người đã lầm lạc trong vấn đề này.
Rồi độc giác Phạm thiện Tudu nói lên với Tỷ-kheo Kokàlika bài kệ này:
Con người được sanh ra,
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xấu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay, bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình,
Là người khởi ác ý
Ðối với chư Thiện Thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-ra-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục
Chịu khổ đau tại đấy.
TTC 4Rồi Tỷ-kheo Kokàlika, do chứng bệnh ấy mệnh chung. Sau khi chết, Tỷ-kheo Kokàlika sanh vào địa ngục sen hồng vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna. Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên, đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna”. Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ.
TTC 5Rồi Thế Tôn, sau khi đêm đã qua, bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, đêm nay Phạm thiên Sahampati khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, đứng một bên, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati thưa với Ta: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna”. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
TTC 6Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, lâu dài bao nhiêu, là tuổi thọ ở địa ngục sen hồng?
—Này Tỷ-kheo, tuổi thọ ở địa ngục sen hồng, rất khó mà tính được. Có chừng ấy năm, hay có chừng ấy trăm năm, hay có chừng ấy ngàn năm, hay có chừng ấy trăm ngàn năm.
—Bạch Thế Tôn, có thể cho một ví dụ được chăng?
—Có thể được, này Tỷ-kheo, một cỗ xe chở hai mươi cân Kosala chở đầy hột mè. Rồi một người cứ sau một trăm năm, một trăm năm, một trăm năm lấy lên một hột mè. Mau hơn, này Tỷ-kheo, là cỗ xe chở hai mươi cân Kosala chở đầy hột mè, do phương pháp này, đi đến tận sạch, không còn gì nữa, cũng chưa đủ là một Abbuda địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Abbuda địa ngục là bằng một Nirabbuda địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Nirabbuda địa ngục bằng một Ababà địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Ababà địa ngục bằng một Ahaha địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Ahaha địa ngục là bằng một Atato địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Atato địa ngục bằng một Kumodo địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Kumodo địa ngục là bằng một Sogandhika địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Sogandhika địa ngục bằng một Uppalako địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Uppalako địa ngục bằng một Pundarika địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Pundarika địa ngục bằng một Paduma địa ngục . Này Tỷ kheo, Tỷ kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục Paduma (sen hồng), vì khởi lên ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna.
Thế Tôn nói như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:
Con người được sanh ra
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xấu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc
Nhỏ thay bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình.
Là người khởi ác ý,
Ðối với chư Thiện Thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-rab-bu-da,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục,
Chịu khổ đau tại đấy.
Atha kho kokāliko bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“pāpicchā, bhante, sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
“Mā hevaṁ, kokālika, mā hevaṁ, kokālika.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Dutiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi me, bhante, bhagavā saddhāyiko paccayiko, atha kho pāpicchāva sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
“Mā hevaṁ, kokālika, mā hevaṁ, kokālika.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Tatiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi me, bhante, bhagavā saddhāyiko paccayiko, atha kho pāpicchāva sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
“Mā hevaṁ, kokālika, mā hevaṁ, kokālika.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Atha kho kokāliko bhikkhu uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Acirapakkantassa ca kokālikassa bhikkhuno sāsapamattīhi pīḷakāhi sabbo kāyo phuṭo ahosi.
Sāsapamattiyo hutvā muggamattiyo ahesuṁ, muggamattiyo hutvā kalāyamattiyo ahesuṁ, kalāyamattiyo hutvā kolaṭṭhimattiyo ahesuṁ, kolaṭṭhimattiyo hutvā kolamattiyo ahesuṁ, kolamattiyo hutvā āmalakamattiyo ahesuṁ, āmalakamattiyo hutvā tiṇḍukamattiyo ahesuṁ, tiṇḍukamattiyo hutvā, beḷuvasalāṭukamattiyo ahesuṁ, beḷuvasalāṭukamattiyo hutvā billamattiyo ahesuṁ, billamattiyo hutvā pabhijjiṁsu, pubbañca lohitañca pagghariṁsu.
So sudaṁ kadalipattesu seti macchova visagilito.
Atha kho turū paccekabrahmā yena kokāliko bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāse ṭhatvā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
“Kosi tvaṁ, āvuso”ti?
“Ahaṁ turū paccekabrahmā”ti.
“Nanu tvaṁ, āvuso, bhagavatā anāgāmī byākato, atha kiñcarahi idhāgato?
Passa yāvañca te idaṁ aparaddhan”ti.
Atha kho turū paccekabrahmā kokālikaṁ bhikkhuṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Purisassa hi jātassa,
kuṭhārī jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṁ,
bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati,
Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṁ,
Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
Appamattako ayaṁ kali,
Yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā,
Ayameva mahattaro kali;
Yo sugatesu manaṁ padūsaye.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ,
Chattiṁsati pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṁ upeti,
Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.
Atha kho kokāliko bhikkhu teneva ābādhena kālamakāsi.
Kālaṅkato ca kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapajjati sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho brahmā sahampati bhagavantaṁ etadavoca:
“kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato.
Kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti.
Idamavoca brahmā sahampati.
Idaṁ vatvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:
“imaṁ, bhikkhave, rattiṁ brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, bhikkhave, brahmā sahampati maṁ etadavoca:
‘kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato;
kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā’ti.
Idamavoca, bhikkhave, brahmā sahampati.
Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kīva dīghaṁ nu kho, bhante, padume niraye āyuppamāṇan”ti?
“Dīghaṁ kho, bhikkhu, padume niraye āyuppamāṇaṁ.
Na taṁ sukaraṁ saṅkhātuṁ:
‘ettakāni vassānīti vā ettakāni vassasatānīti vā ettakāni vassasahassānīti vā ettakāni vassasatasahassānīti vā’”ti.
“Sakkā pana, bhante, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
“seyyathāpi, bhikkhu, vīsatikhāriko kosalako tilavāho tato puriso vassasatassa vassasatassa accayena ekamekaṁ tilaṁ uddhareyya.
Khippataraṁ kho so, bhikkhu, vīsatikhāriko kosalako tilavāho iminā upakkamena parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, na tveva eko abbudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati abbudā nirayā; evameko nirabbudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati nirabbudā nirayā; evameko ababo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ababā nirayā; evameko aṭaṭo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati aṭaṭā nirayā; evameko ahaho nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ahahā nirayā; evameko kumudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati kumudā nirayā; evameko sogandhiko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati sogandhikā nirayā; evameko uppalako nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati uppalakā nirayā; evameko puṇḍarīko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati puṇḍarīkā nirayā; evameko padumo nirayo.
Padumaṁ kho pana, bhikkhu, nirayaṁ kokāliko bhikkhu upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Purisassa hi jātassa,
kuṭhārī jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṁ,
bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati,
Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṁ,
Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
Appamattako ayaṁ kali,
Yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā,
Ayameva mahattaro kali;
Yo sugatesu manaṁ padūsaye.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ,
Chattiṁsati pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṁ upeti,
Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.
Navamaṁ.
Then the mendicant Kokālika went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
“Sir, Sāriputta and Moggallāna have corrupt wishes. They’ve fallen under the sway of corrupt wishes.”
“Don’t say that, Kokālika! Don’t say that, Kokālika!
Have confidence in Sāriputta and Moggallāna,
they’re good monks.”
For a second time Kokālika said to the Buddha,
“Despite my faith and trust in the Buddha, Sāriputta and Moggallāna have corrupt wishes. They’ve fallen under the sway of corrupt wishes.”
“Don’t say that, Kokālika! Don’t say that, Kokālika!
Have confidence in Sāriputta and Moggallāna,
they’re good monks.”
For a third time Kokālika said to the Buddha,
“Despite my faith and trust in the Buddha, Sāriputta and Moggallāna have corrupt wishes. They’ve fallen under the sway of corrupt wishes.”
“Don’t say that, Kokālika! Don’t say that, Kokālika!
Have confidence in Sāriputta and Moggallāna,
they’re good monks.”
Then Kokālika got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Not long after he left his body erupted with boils the size of mustard seeds.
The boils grew to the size of mung beans, then chickpeas, then jujube seeds, then jujubes, then myrobalans, then unripe wood-apples, then ripe wood-apples. Finally they burst open, and pus and blood oozed out.
He just laid down on banana leaves like a poisoned fish.
Then Tudu the independent divinity went to Kokālika, and standing in the air he said to him,
“Kokālika, have confidence in Sāriputta and Moggallāna,
they’re good monks.”
“Who are you, reverend?”
“I am Tudu the independent divinity.”
“Didn’t the Buddha declare you a non-returner? So what then are you doing back here?
See how far you have strayed!”
Then Tudu addressed Kokālika in verse:
“A person is born
with an axe in their mouth.
A fool cuts themselves with it
when they say bad words.
When you praise someone worthy of criticism,
or criticize someone worthy of praise,
you choose a losing hand with your own mouth:
you’ll never find happiness that way.
A losing hand at dice is a trivial thing,
if all you lose is your money
and all you own, even yourself.
What’s a really terrible hand
is to hate the holy ones.
For a hundred thousand times a hundred million
times five hundred and thirty-six times a thousand times ten million years
a slanderer of noble ones goes to hell,
having aimed bad words and thoughts at them.”
Then the mendicant Kokālika died of that illness.
He was reborn in the Pink Lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.
Then, late at night, the glorious divinity Sahampati, lighting up the entire Jeta’s Grove, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him,
“Sir, the mendicant Kokālika has passed away.
He was reborn in the pink lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.”
That’s what the divinity Sahampati said.
Then he bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right side, before vanishing right there.
Then, when the night had passed, the Buddha told the mendicants all that had happened.
When he said this, one of the mendicants asked the Buddha,
“Sir, how long is the lifespan in the Pink Lotus hell?”
“It’s long, mendicant.
It’s not easy to calculate
how many years, how many hundreds or thousands or hundreds of thousands of years it lasts.”
“But sir, is it possible to give a simile?”
“It’s possible,” said the Buddha.
“Suppose there was a Kosalan load of twenty packs of sesame seed. And at the end of every hundred years someone would remove a single seed from it.
By this means the Kosalan load of twenty packs of sesame seed would run out faster than a single lifetime in the Abbuda hell.
Now, twenty lifetimes in the Abbuda hell equal one lifetime in the Nirabbuda hell.
Twenty lifetimes in the Nirabbuda hell equal one lifetime in the Ababa hell.
Twenty lifetimes in the Ababa hell equal one lifetime in the Aṭaṭa hell.
Twenty lifetimes in the Aṭaṭa hell equal one lifetime in the Ahaha hell.
Twenty lifetimes in the Ahaha hell equal one lifetime in the Yellow Lotus hell.
Twenty lifetimes in the Yellow Lotus hell equal one lifetime in the Fragrant Water Lily hell.
Twenty lifetimes in the Fragrant Water Lily hell equal one lifetime in the Blue Water Lily hell.
Twenty lifetimes in the Blue Water Lily hell equal one lifetime in the White Lotus hell.
Twenty lifetimes in the White Lotus hell equal one lifetime in the Pink Lotus hell.
The mendicant Kokālika has been reborn in the Pink Lotus hell because of his resentment for Sāriputta and Moggallāna.”
That is what the Buddha said.
Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“A person is born
with an axe in their mouth.
A fool cuts themselves with it
when they say bad words.
When you praise someone worthy of criticism,
or criticize someone worthy of praise,
you choose a losing hand with your own mouth:
you’ll never find happiness that way.
A losing hand at dice is a trivial thing,
if all you lose is your money
and all you own, even yourself.
What’s a really terrible hand
is to hate the holy ones.
For a hundred thousand times a hundred million,
times five hundred and thirty-six times a thousand times ten million years
a slanderer of noble ones goes to hell,
having aimed bad words and thoughts at them.”
TTC 1Bấy giờ có Tỷ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kokàlika bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.
—Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn có lòng tin và tin tưởng, đối với con Sàriputta và Moggallàna là ác dục, bị ác dục chinh phục.”
—Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlika, tâm hãy tịnh tín đối với Sàriputta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
—Này Kokàlika, chớ có nói vậy! Này Kokàlika, chớ có nói vậy. Này Kokàlikaa, tâm hãy tịnh tín đối với Sàripuuta và Moggallàna. Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn: … Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
TTC 2Rồi Tỷ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi ra đi. Tỷ-kheo Kokàlika ra đi không bao lâu, toàn thân của Tỷ-kheo Kokàlika nổi lên những mụt to bằng hạt cải: sau khi lớn bằng hạt cải, chúng lớn lên bằng hột đậu; sau khi lớn lên bằng hột đậu, chúng lớn lên bằng hạt đậu lớn; sau khi lớn bằng hột đậu lớn, chúng lớn lên bằng hòn sỏi; sau khi lớn bằng hòn sỏi Kolatthi, chúng lớn lên bằng hột táo; sau khi lớn lên bằng hột táo, chúng lớn lên bằng trái Amala (A-ma-lặc); sau khi lớn lên bằng trái Amala, chúng lớn lên bằng trái dưa (trái vilva); sau khi lớn lên bằng trái dưa vilva, chúng lớn lên bằng trái billa (trái dưa đã chín); sau khi lớn lên bằng trái billa, chúng bị phá vỡ, mủ và máu chảy ra. Tại đây, nó nằm trên lá chuối, như con cá ăn phải đồ độc.
TTC 3Lúc ấy có độc giác Phạm thiên Tudu đi đến Tỷ-kheo Kokàlika, sau khi đến, đứng trên hư không và nói với Tỷ-kheo Kokàlika:
—Này Kokàlika, hãy đặt tâm tịnh tín nơi Sàriputta và Moggallàna! Hiền thiện là Sàriputta và Moggallàna.
—Ông là ai?
—Ta là độc giác Phạm thiên Tudu.
—Thưa Hiền giả, có phải Hiền giả là người được Thế Tôn trả lời là đã chứng Bất lai? Sao người lại đến đây? Hãy xem như thế nào người đã lầm lạc trong vấn đề này.
Rồi độc giác Phạm thiện Tudu nói lên với Tỷ-kheo Kokàlika bài kệ này:
Con người được sanh ra,
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xấu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc.
Nhỏ thay, bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình,
Là người khởi ác ý
Ðối với chư Thiện Thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-ra-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục
Chịu khổ đau tại đấy.
TTC 4Rồi Tỷ-kheo Kokàlika, do chứng bệnh ấy mệnh chung. Sau khi chết, Tỷ-kheo Kokàlika sanh vào địa ngục sen hồng vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna. Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên, đứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna”. Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ.
TTC 5Rồi Thế Tôn, sau khi đêm đã qua, bảo các Tỷ-kheo:
—Này các Tỷ-kheo, đêm nay Phạm thiên Sahampati khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên, đứng một bên, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati thưa với Ta: “Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàika đã mệnh chung, phải sanh vào địa ngục sen hồng, vì tâm khởi ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna”. Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Nói như vậy xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
TTC 6Khi nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, lâu dài bao nhiêu, là tuổi thọ ở địa ngục sen hồng?
—Này Tỷ-kheo, tuổi thọ ở địa ngục sen hồng, rất khó mà tính được. Có chừng ấy năm, hay có chừng ấy trăm năm, hay có chừng ấy ngàn năm, hay có chừng ấy trăm ngàn năm.
—Bạch Thế Tôn, có thể cho một ví dụ được chăng?
—Có thể được, này Tỷ-kheo, một cỗ xe chở hai mươi cân Kosala chở đầy hột mè. Rồi một người cứ sau một trăm năm, một trăm năm, một trăm năm lấy lên một hột mè. Mau hơn, này Tỷ-kheo, là cỗ xe chở hai mươi cân Kosala chở đầy hột mè, do phương pháp này, đi đến tận sạch, không còn gì nữa, cũng chưa đủ là một Abbuda địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Abbuda địa ngục là bằng một Nirabbuda địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Nirabbuda địa ngục bằng một Ababà địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Ababà địa ngục bằng một Ahaha địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Ahaha địa ngục là bằng một Atato địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Atato địa ngục bằng một Kumodo địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Kumodo địa ngục là bằng một Sogandhika địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Sogandhika địa ngục bằng một Uppalako địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Uppalako địa ngục bằng một Pundarika địa ngục. Ví như, này Tỷ-kheo, hai mươi Pundarika địa ngục bằng một Paduma địa ngục . Này Tỷ kheo, Tỷ kheo Kokàlika phải sanh vào địa ngục Paduma (sen hồng), vì khởi lên ác ý đối với Sàriputta và Moggallàna.
Thế Tôn nói như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:
Con người được sanh ra
Sanh với búa trong miệng,
Người ngu nói điều xấu,
Là tự chém vào mình.
Ai khen người đáng chê,
Ai chê người đáng khen,
Ðều chất chứa bất hạnh,
Do từ miệng tạo thành,
Và chính do bất hạnh,
Nên không được an lạc
Nhỏ thay bất hạnh này,
Chính do cờ bạc sanh,
Khiến do cờ bạc sanh,
Khiến tài sản tiêu hao,
Bất hạnh này lớn hơn,
Không những mất tất cả,
Lại mất cả tự mình.
Là người khởi ác ý,
Ðối với chư Thiện Thệ.
Ai chỉ trích bậc Thánh,
Với lời, với ác ý,
Trải qua trăm ngàn thời,
Với ni-rab-bu-da,
Còn thêm ba mươi sáu,
Với năm a-bu-đa,
Phải sanh vào địa ngục,
Chịu khổ đau tại đấy.
Atha kho kokāliko bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“pāpicchā, bhante, sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
“Mā hevaṁ, kokālika, mā hevaṁ, kokālika.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Dutiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi me, bhante, bhagavā saddhāyiko paccayiko, atha kho pāpicchāva sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
“Mā hevaṁ, kokālika, mā hevaṁ, kokālika.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Tatiyampi kho kokāliko bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi me, bhante, bhagavā saddhāyiko paccayiko, atha kho pāpicchāva sāriputtamoggallānā, pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā”ti.
“Mā hevaṁ, kokālika, mā hevaṁ, kokālika.
Pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
Atha kho kokāliko bhikkhu uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Acirapakkantassa ca kokālikassa bhikkhuno sāsapamattīhi pīḷakāhi sabbo kāyo phuṭo ahosi.
Sāsapamattiyo hutvā muggamattiyo ahesuṁ, muggamattiyo hutvā kalāyamattiyo ahesuṁ, kalāyamattiyo hutvā kolaṭṭhimattiyo ahesuṁ, kolaṭṭhimattiyo hutvā kolamattiyo ahesuṁ, kolamattiyo hutvā āmalakamattiyo ahesuṁ, āmalakamattiyo hutvā tiṇḍukamattiyo ahesuṁ, tiṇḍukamattiyo hutvā, beḷuvasalāṭukamattiyo ahesuṁ, beḷuvasalāṭukamattiyo hutvā billamattiyo ahesuṁ, billamattiyo hutvā pabhijjiṁsu, pubbañca lohitañca pagghariṁsu.
So sudaṁ kadalipattesu seti macchova visagilito.
Atha kho turū paccekabrahmā yena kokāliko bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā vehāse ṭhatvā kokālikaṁ bhikkhuṁ etadavoca:
“pasādehi, kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṁ.
Pesalā sāriputtamoggallānā”ti.
“Kosi tvaṁ, āvuso”ti?
“Ahaṁ turū paccekabrahmā”ti.
“Nanu tvaṁ, āvuso, bhagavatā anāgāmī byākato, atha kiñcarahi idhāgato?
Passa yāvañca te idaṁ aparaddhan”ti.
Atha kho turū paccekabrahmā kokālikaṁ bhikkhuṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
“Purisassa hi jātassa,
kuṭhārī jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṁ,
bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati,
Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṁ,
Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
Appamattako ayaṁ kali,
Yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā,
Ayameva mahattaro kali;
Yo sugatesu manaṁ padūsaye.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ,
Chattiṁsati pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṁ upeti,
Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.
Atha kho kokāliko bhikkhu teneva ābādhena kālamakāsi.
Kālaṅkato ca kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapajjati sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho brahmā sahampati bhagavantaṁ etadavoca:
“kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato.
Kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti.
Idamavoca brahmā sahampati.
Idaṁ vatvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi:
“imaṁ, bhikkhave, rattiṁ brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṁ jetavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, bhikkhave, brahmā sahampati maṁ etadavoca:
‘kokāliko, bhante, bhikkhu kālaṅkato;
kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṁ nirayaṁ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā’ti.
Idamavoca, bhikkhave, brahmā sahampati.
Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
Evaṁ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“kīva dīghaṁ nu kho, bhante, padume niraye āyuppamāṇan”ti?
“Dīghaṁ kho, bhikkhu, padume niraye āyuppamāṇaṁ.
Na taṁ sukaraṁ saṅkhātuṁ:
‘ettakāni vassānīti vā ettakāni vassasatānīti vā ettakāni vassasahassānīti vā ettakāni vassasatasahassānīti vā’”ti.
“Sakkā pana, bhante, upamaṁ kātun”ti?
“Sakkā, bhikkhū”ti bhagavā avoca:
“seyyathāpi, bhikkhu, vīsatikhāriko kosalako tilavāho tato puriso vassasatassa vassasatassa accayena ekamekaṁ tilaṁ uddhareyya.
Khippataraṁ kho so, bhikkhu, vīsatikhāriko kosalako tilavāho iminā upakkamena parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya, na tveva eko abbudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati abbudā nirayā; evameko nirabbudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati nirabbudā nirayā; evameko ababo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ababā nirayā; evameko aṭaṭo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati aṭaṭā nirayā; evameko ahaho nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ahahā nirayā; evameko kumudo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati kumudā nirayā; evameko sogandhiko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati sogandhikā nirayā; evameko uppalako nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati uppalakā nirayā; evameko puṇḍarīko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati puṇḍarīkā nirayā; evameko padumo nirayo.
Padumaṁ kho pana, bhikkhu, nirayaṁ kokāliko bhikkhu upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṁ āghātetvā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Purisassa hi jātassa,
kuṭhārī jāyate mukhe;
Yāya chindati attānaṁ,
bālo dubbhāsitaṁ bhaṇaṁ.
Yo nindiyaṁ pasaṁsati,
Taṁ vā nindati yo pasaṁsiyo;
Vicināti mukhena so kaliṁ,
Kalinā tena sukhaṁ na vindati.
Appamattako ayaṁ kali,
Yo akkhesu dhanaparājayo;
Sabbassāpi sahāpi attanā,
Ayameva mahattaro kali;
Yo sugatesu manaṁ padūsaye.
Sataṁ sahassānaṁ nirabbudānaṁ,
Chattiṁsati pañca ca abbudāni;
Yamariyagarahī nirayaṁ upeti,
Vācaṁ manañca paṇidhāya pāpakan”ti.
Navamaṁ.