TTC 1Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha, tại làng Nàlàka. Rồi du sĩ Sàmandakàni đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Sámandakàni nói với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Hiền giả Sàriputta, thế nào là lạc, thế nào là khổ?
TTC 2—Này Hiền giả, tái sanh là khổ, không tái sanh là lạc. Khi có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này: Lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, xúc chạm với lửa, xúc chạm với trượng, xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con và bạn bè, khi gặp nhau, hội ngộ với nhau cũng não hại.
Này Hiền giả, tái sanh là khổ, khi có tái sanh, chờ đợi là khổ này.
TTC 3Khi không có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này: Không lạnh, không nóng, không đói, không khát, không đại tiện, không tiểu tiện, không có xúc chạm với lửa, không có xúc chạm với trượng, không có xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con bạn bè, khi gặp nhau, khi hội ngộ với nhau không có não hại.
Này Hiền giả, khi không có tái sanh, chờ đợi là lạc này.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto magadhesu viharati nālakagāmake.
Atha kho sāmaṇḍakāni paribbājako yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sāmaṇḍakāni paribbājako āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sukhaṁ, kiṁ dukkhan”ti?
“Abhinibbatti kho, āvuso, dukkhā, anabhinibbatti sukhā.
Abhinibbattiyā, āvuso, sati idaṁ dukkhaṁ pāṭikaṅkhaṁ—
sītaṁ uṇhaṁ jighacchā pipāsā uccāro passāvo aggisamphasso daṇḍasamphasso satthasamphasso ñātīpi mittāpi saṅgamma samāgamma rosenti.
Abhinibbattiyā, āvuso, sati idaṁ dukkhaṁ pāṭikaṅkhaṁ.
Anabhinibbattiyā, āvuso, sati idaṁ sukhaṁ pāṭikaṅkhaṁ—
na sītaṁ na uṇhaṁ na jighacchā na pipāsā na uccāro na passāvo na aggisamphasso na daṇḍasamphasso na satthasamphasso ñātīpi mittāpi saṅgamma samāgamma na rosenti.
Anabhinibbattiyā, āvuso, sati idaṁ sukhaṁ pāṭikaṅkhan”ti.
Pañcamaṁ.
At one time, the Venerable Sāriputta was dwelling near the small village of Nālaka in Magadha. And then, there where Venerable Sāriputta was, there Sāmaṇḍakāni, the wanderer, approached. Having approached, he exchanged greetings with the Venerable Sāriputta. Having exchanged greetings, and courteous talk having passed between them, he sat to one side. Having sat to one side, Sāmaṇḍakāni, the wanderer, said this to Venerable Sāriputta:
“Now, what, friend Sāriputta, is the pleasant, and what is the painful?”
“Rebirth, friend, is painful; non-rebirth is pleasant. When, friend, there is rebirth, this pain is to be expected: cold and heat, hunger and thirst, excrement and urine, contact with fire, contact with punishment, contact with weapons, and anger caused by meeting and associating with relatives and friends. When, friend, there is rebirth, this pain is to be expected.
“When, friend, there is no rebirth, this pleasantness is to be expected: neither cold nor heat, neither hunger nor thirst, neither excrement nor urine, neither contact with fire, nor contact with punishment, nor contact with weapons, and no anger caused by meeting and associating with relatives and friends. When, friend, there is no rebirth, this pleasantness is to be expected.”
TTC 1Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha, tại làng Nàlàka. Rồi du sĩ Sàmandakàni đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Sámandakàni nói với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Hiền giả Sàriputta, thế nào là lạc, thế nào là khổ?
TTC 2—Này Hiền giả, tái sanh là khổ, không tái sanh là lạc. Khi có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này: Lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, xúc chạm với lửa, xúc chạm với trượng, xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con và bạn bè, khi gặp nhau, hội ngộ với nhau cũng não hại.
Này Hiền giả, tái sanh là khổ, khi có tái sanh, chờ đợi là khổ này.
TTC 3Khi không có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này: Không lạnh, không nóng, không đói, không khát, không đại tiện, không tiểu tiện, không có xúc chạm với lửa, không có xúc chạm với trượng, không có xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con bạn bè, khi gặp nhau, khi hội ngộ với nhau không có não hại.
Này Hiền giả, khi không có tái sanh, chờ đợi là lạc này.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto magadhesu viharati nālakagāmake.
Atha kho sāmaṇḍakāni paribbājako yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sāmaṇḍakāni paribbājako āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, sukhaṁ, kiṁ dukkhan”ti?
“Abhinibbatti kho, āvuso, dukkhā, anabhinibbatti sukhā.
Abhinibbattiyā, āvuso, sati idaṁ dukkhaṁ pāṭikaṅkhaṁ—
sītaṁ uṇhaṁ jighacchā pipāsā uccāro passāvo aggisamphasso daṇḍasamphasso satthasamphasso ñātīpi mittāpi saṅgamma samāgamma rosenti.
Abhinibbattiyā, āvuso, sati idaṁ dukkhaṁ pāṭikaṅkhaṁ.
Anabhinibbattiyā, āvuso, sati idaṁ sukhaṁ pāṭikaṅkhaṁ—
na sītaṁ na uṇhaṁ na jighacchā na pipāsā na uccāro na passāvo na aggisamphasso na daṇḍasamphasso na satthasamphasso ñātīpi mittāpi saṅgamma samāgamma na rosenti.
Anabhinibbattiyā, āvuso, sati idaṁ sukhaṁ pāṭikaṅkhan”ti.
Pañcamaṁ.