TTC 1Bấy giờ có du sĩ ngoại đạo Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Uttiya nói với Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, có phải Tôn giả chủ trương thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
—Này Uttiya. Ta không có nói như sau: “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”.
—Này Tôn giả Gotama, có phải thế giới là có biên tế…thế giới là không biên tế… sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau chết… Như Lai không có tồn tại sau khi chết… Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
—Này Uttiya, Ta không có nói như sau: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”.
TTC 2—Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường, kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: “Này Uttiya, Ta không có nói: “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.”
—Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường? … có phải thế giới là có biên tế? … có phải thế giới không có biên tế? … có phải sinh mạng và thân thể là một? … có phải sinh mạng và thân thể là khác? … có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết? … có phải Như Lai không có tồn tại sau khi chết? … có phải Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau chết? … có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết? Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: “Này Uttiya, Ta không có nói: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng.”
—Vậy cái gì được Tôn giả Gotama nói lên?
—Với thắng trí, này Uttiya, Ta thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được chấm dứt, đế Thánh lý được chứng đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ.
—“Nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh… để Niết-bàn được chứng ngộ”, thời do vậy, cả thế giới này sẽ đi ra khỏi, hay chỉ có một nửa, hay chỉ có một phần ba? Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng.
TTC 3Rồi Tôn giả Ananda suy nghĩ như sau: “Chớ có để cho du sĩ Uttiya có ác tà kiến rằng: “Sa-môn Gotama khi được nghe ta hỏi câu hỏi tối ư quan trọng lại tránh né, không có trả lời, không dám trả lời, và như vậy là bất hạnh, là đau khổ lâu dài cho du sĩ Uttiya.” Rồi Tôn giả Ananda nói với du sĩ Uttiya:
TTC 4—Vậy này Hiền giả Uttiya, Ta sẽ dùng một ví dụ, chính nhờ ví dụ, ở đây một số người có trí có thể hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Hiền giả Uttiya, ngôi thành trì biên địa của vua với những nền móng vững chắc, với các thành lũy tháp canh vững chắc, và chỉ có một cửa vào. Tại đây, người giữ cửa là người sáng suốt, thông minh, có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy, người ấy có thể không thấy một kẽ hở trong thành hay lỗ trống thành lớn cho đến một con mèo có thể chui qua. Người ấy có thể không biết được: “Từng ấy loài hữu tình đã đi vào hay đi ra thành này, nhưng điều này cho biết: “Những loài hữu tình thô lớn nào đi vào hay đi ra thành này”, tất cả chúng phải đi vào hay đi ra ngang qua cửa thành này. Cũng vậy, này Hiền giả Uttiya, đối với Như Lai, không phải là một vấn đề quan trọng (câu hỏi này của Thầy) là có phải toàn thế giới do vậy được thoát ra khỏi hay nửa phần thế giới, hay là một phần ba? Những điều Như Lai nói là như sau: “Những ai đã được thoát ra khỏi thế giới, hay đang được thoát ra, hay sẽ thoát ra, tất cả những vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm ô nhiểm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, với tâm khéo an trú trên Bốn niệm xứ; sau khi như thật tu tập Bảy giác chi, như vậy các vị ấy đã thoát khỏi, đang thoát khỏi, sẽ thoát khỏi thế giới. Này Hiền giả Uttiya, về câu hỏi mà Thầy đã hỏi Thế Tôn đứng trên một lập trường khác. Ðó là lý do tại sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy cho Thầy.
Atha kho uttiyo paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uttiyo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho gotama, sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, uttiya, mayā:
‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kiṁ pana, bho gotama, asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan”ti?
“Etampi kho, uttiya, abyākataṁ mayā:
‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kiṁ nu kho, bho gotama, antavā loko …pe…
anantavā loko …
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”ti?
“Etampi kho, uttiya, abyākataṁ mayā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“‘Kiṁ nu kho, bho gotama, sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti, iti puṭṭho samāno ‘abyākataṁ kho etaṁ, uttiya, mayā—
sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti vadesi.
‘Kiṁ pana, bho gotama, asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti, iti puṭṭho samāno:
‘etampi kho, uttiya, abyākataṁ mayā asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, bho gotama, antavā loko …pe…
anantavā loko …
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti, iti puṭṭho samāno:
‘etampi kho, uttiya, abyākataṁ mayā—
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti vadesi.
Atha kiñcarahi bhotā gotamena byākatan”ti?
“Abhiññāya kho ahaṁ, uttiya, sāvakānaṁ dhammaṁ desemi sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
“Yaṁ panetaṁ bhavaṁ gotamo abhiññāya sāvakānaṁ dhammaṁ desesi sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, sabbo vā tena loko nīyati upaḍḍho vā tibhāgo vā”ti?
Evaṁ vutte, bhagavā tuṇhī ahosi.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“mā hevaṁ kho uttiyo paribbājako pāpakaṁ diṭṭhigataṁ paṭilabhi:
‘sabbasāmukkaṁsikaṁ vata me samaṇo gotamo pañhaṁ puṭṭho saṁsādeti, no vissajjeti, na nūna visahatī’ti.
Tadassa uttiyassa paribbājakassa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
Atha kho āyasmā ānando uttiyaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“tenahāvuso uttiya, upamaṁ te karissāmi.
Upamāya m’idhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, āvuso uttiya, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ ekadvāraṁ.
Tatrassa dovāriko paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā.
So tassa nagarassa samantā anupariyāyapathaṁ anukkamati. Anupariyāyapathaṁ anukkamamāno na passeyya pākārasandhiṁ vā pākāravivaraṁ vā, antamaso biḷāranikkhamanamattampi.
No ca khvassa evaṁ ñāṇaṁ hoti: ‘ettakā pāṇā imaṁ nagaraṁ pavisanti vā nikkhamanti vā’ti.
Atha khvassa evamettha hoti: ‘ye kho keci oḷārikā pāṇā imaṁ nagaraṁ pavisanti vā nikkhamanti vā, sabbe te iminā dvārena pavisanti vā nikkhamanti vā’ti.
Evamevaṁ kho, āvuso uttiya, na tathāgatassa evaṁ ussukkaṁ hoti: ‘sabbo vā tena loko nīyati, upaḍḍho vā, tibhāgo vā’ti.
Atha kho evamettha tathāgatassa hoti: ‘ye kho keci lokamhā nīyiṁsu vā nīyanti vā nīyissanti vā, sabbe te pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā, satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā.
Evamete lokamhā nīyiṁsu vā nīyanti vā nīyissanti vā’ti.
Yadeva kho tvaṁ, āvuso uttiya, bhagavantaṁ pañhaṁ apucchi tadevetaṁ pañhaṁ bhagavantaṁ aññena pariyāyena apucchi.
Tasmā te taṁ bhagavā na byākāsī”ti.
Pañcamaṁ.
Then Uttiya the wanderer went to the Blessed One and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, he said to the Blessed One,
“Master Gotama, is it the case that ‘The cosmos is eternal: Only this is true; anything otherwise is worthless’?”
“Uttiya, I haven’t declared that ‘The cosmos is eternal: Only this is true; anything otherwise is worthless.’”
“Very well, then, Master Gotama, is it the case that: ‘The cosmos is not eternal: Only this is true; anything otherwise is worthless’?”
“Uttiya, I haven’t declared that ‘The cosmos is not eternal: Only this is true; anything otherwise is worthless.’”
“Very well, then, Master Gotama, is it the case that ‘The cosmos is finite… The cosmos is infinite… The soul & the body are the same… The soul is one thing and the body another… After death a Tathagata exists… After death a Tathagata does not exist… After death a Tathagata both does & does not exist… After death a Tathagata neither does nor does not exist. Only this is true; anything otherwise is worthless’?”
“Uttiya, I haven’t declared that ‘After death a Tathagata neither does nor does not exist: Only this is true; anything otherwise is worthless.’”
“But, Master Gotama, on being asked, ‘Is it the case that “The cosmos is eternal: Only this is true; anything otherwise is worthless"?’ you inform me, ‘Uttiya, I haven’t declared that “The cosmos is eternal: Only this is true; anything otherwise is worthless."’ On being asked, ‘Is it the case that “The cosmos is not eternal… The cosmos is finite… The cosmos is infinite… The soul & the body are the same… The soul is one thing and the body another… After death a Tathagata exists… After death a Tathagata does not exist… After death a Tathagata both does & does not exist… After death a Tathagata neither does nor does not exist. Only this is true; anything otherwise is worthless"?’ you inform me, ‘Uttiya, I haven’t declared that “After death a Tathagata neither does nor does not exist. Only this is true; anything otherwise is worthless."’ Now is there anything you have declared?”
“Uttiya, having directly known it, I teach the Dhamma to my disciples for the purification of beings, for the overcoming of sorrow & lamentation, for the disappearance of pain & distress, for the attainment of the right method, & for the realization of Unbinding.”
“And, Master Gotama, when having directly known it, you teach the Dhamma to your disciples for the purification of beings, for the overcoming of sorrow & lamentation, for the disappearance of pain & distress, for the attainment of the right method, & for the realization of Unbinding, will all the cosmos be led [to release], or a half of it, or a third?”
When this was said, the Blessed One was silent.
Then the thought occurred to Ven. Ananda: “Don’t let Uttiya the wanderer acquire the evil viewpoint that, ‘When I asked him an all-encompassing question, Gotama the contemplative faltered and didn’t reply. Perhaps he was unable to.’ That would be for his long-term harm & suffering.” So he said to Uttiya, “In that case, my friend, I will give you an analogy, for there are cases where it is through the use of analogy that intelligent people can understand the meaning of what is being said.
“Uttiya, suppose that there were a royal frontier fortress with strong ramparts, strong walls & arches, and a single gate. In it would be a wise, competent, & knowledgeable gatekeeper to keep out those he didn’t know and to let in those he did. Patrolling the path around the city, he wouldn’t see a crack or an opening in the walls big enough for even a cat to slip through. Although he wouldn’t know that ‘So-and-so many creatures enter or leave the city,’ he would know this: ‘Whatever large creatures enter or leave the city all enter or leave it through this gate.’
“In the same way, the Tathagata isn’t concerned with whether all the cosmos or half of it or a third of it will be led to release by means of that [Dhamma]. But he does know this: ‘All those who have been led, are being led, or will be led [to release] from the cosmos have done so, are doing so, or will do so after having abandoned the five hindrances—those defilements of awareness that weaken discernment—having well-established their minds in the four frames of reference, and having developed, as they have come to be, the seven factors for Awakening. When you asked the Blessed One this question, you had already asked it in another way. That’s why he didn’t respond.”
TTC 1Bấy giờ có du sĩ ngoại đạo Uttiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Uttiya nói với Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, có phải Tôn giả chủ trương thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
—Này Uttiya. Ta không có nói như sau: “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”.
—Này Tôn giả Gotama, có phải thế giới là có biên tế…thế giới là không biên tế… sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như Lai có tồn tại sau chết… Như Lai không có tồn tại sau khi chết… Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết… Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng?
—Này Uttiya, Ta không có nói như sau: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng”.
TTC 2—Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường, kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: “Này Uttiya, Ta không có nói: “Thế giới là vô thường. Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng.”
—Thưa Tôn giả Gotama, có phải thế giới là vô thường? … có phải thế giới là có biên tế? … có phải thế giới không có biên tế? … có phải sinh mạng và thân thể là một? … có phải sinh mạng và thân thể là khác? … có phải Như Lai có tồn tại sau khi chết? … có phải Như Lai không có tồn tại sau khi chết? … có phải Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau chết? … có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết? Kiến này là sự thật, kiến nào khác là hư vọng? Ðược hỏi vậy, Thế Tôn trả lời: “Này Uttiya, Ta không có nói: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Kiến này là sự thật. Kiến nào khác là hư vọng.”
—Vậy cái gì được Tôn giả Gotama nói lên?
—Với thắng trí, này Uttiya, Ta thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được chấm dứt, đế Thánh lý được chứng đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ.
—“Nếu Tôn giả Gotama thuyết pháp cho các đệ tử để họ được thanh tịnh… để Niết-bàn được chứng ngộ”, thời do vậy, cả thế giới này sẽ đi ra khỏi, hay chỉ có một nửa, hay chỉ có một phần ba? Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng.
TTC 3Rồi Tôn giả Ananda suy nghĩ như sau: “Chớ có để cho du sĩ Uttiya có ác tà kiến rằng: “Sa-môn Gotama khi được nghe ta hỏi câu hỏi tối ư quan trọng lại tránh né, không có trả lời, không dám trả lời, và như vậy là bất hạnh, là đau khổ lâu dài cho du sĩ Uttiya.” Rồi Tôn giả Ananda nói với du sĩ Uttiya:
TTC 4—Vậy này Hiền giả Uttiya, Ta sẽ dùng một ví dụ, chính nhờ ví dụ, ở đây một số người có trí có thể hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Hiền giả Uttiya, ngôi thành trì biên địa của vua với những nền móng vững chắc, với các thành lũy tháp canh vững chắc, và chỉ có một cửa vào. Tại đây, người giữ cửa là người sáng suốt, thông minh, có trí, ngăn chận những người không quen biết, cho vào những người quen biết. Khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy, người ấy có thể không thấy một kẽ hở trong thành hay lỗ trống thành lớn cho đến một con mèo có thể chui qua. Người ấy có thể không biết được: “Từng ấy loài hữu tình đã đi vào hay đi ra thành này, nhưng điều này cho biết: “Những loài hữu tình thô lớn nào đi vào hay đi ra thành này”, tất cả chúng phải đi vào hay đi ra ngang qua cửa thành này. Cũng vậy, này Hiền giả Uttiya, đối với Như Lai, không phải là một vấn đề quan trọng (câu hỏi này của Thầy) là có phải toàn thế giới do vậy được thoát ra khỏi hay nửa phần thế giới, hay là một phần ba? Những điều Như Lai nói là như sau: “Những ai đã được thoát ra khỏi thế giới, hay đang được thoát ra, hay sẽ thoát ra, tất cả những vị ấy, sau khi đoạn tận năm triền cái, những pháp làm ô nhiểm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, với tâm khéo an trú trên Bốn niệm xứ; sau khi như thật tu tập Bảy giác chi, như vậy các vị ấy đã thoát khỏi, đang thoát khỏi, sẽ thoát khỏi thế giới. Này Hiền giả Uttiya, về câu hỏi mà Thầy đã hỏi Thế Tôn đứng trên một lập trường khác. Ðó là lý do tại sao Thế Tôn không trả lời câu hỏi ấy cho Thầy.
Atha kho uttiyo paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uttiyo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho gotama, sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, uttiya, mayā:
‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kiṁ pana, bho gotama, asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan”ti?
“Etampi kho, uttiya, abyākataṁ mayā:
‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kiṁ nu kho, bho gotama, antavā loko …pe…
anantavā loko …
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan”ti?
“Etampi kho, uttiya, abyākataṁ mayā:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“‘Kiṁ nu kho, bho gotama, sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti, iti puṭṭho samāno ‘abyākataṁ kho etaṁ, uttiya, mayā—
sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti vadesi.
‘Kiṁ pana, bho gotama, asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti, iti puṭṭho samāno:
‘etampi kho, uttiya, abyākataṁ mayā asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, bho gotama, antavā loko …pe…
anantavā loko …
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti, iti puṭṭho samāno:
‘etampi kho, uttiya, abyākataṁ mayā—
neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’ti vadesi.
Atha kiñcarahi bhotā gotamena byākatan”ti?
“Abhiññāya kho ahaṁ, uttiya, sāvakānaṁ dhammaṁ desemi sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
“Yaṁ panetaṁ bhavaṁ gotamo abhiññāya sāvakānaṁ dhammaṁ desesi sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, sabbo vā tena loko nīyati upaḍḍho vā tibhāgo vā”ti?
Evaṁ vutte, bhagavā tuṇhī ahosi.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“mā hevaṁ kho uttiyo paribbājako pāpakaṁ diṭṭhigataṁ paṭilabhi:
‘sabbasāmukkaṁsikaṁ vata me samaṇo gotamo pañhaṁ puṭṭho saṁsādeti, no vissajjeti, na nūna visahatī’ti.
Tadassa uttiyassa paribbājakassa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”ti.
Atha kho āyasmā ānando uttiyaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“tenahāvuso uttiya, upamaṁ te karissāmi.
Upamāya m’idhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, āvuso uttiya, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ ekadvāraṁ.
Tatrassa dovāriko paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā.
So tassa nagarassa samantā anupariyāyapathaṁ anukkamati. Anupariyāyapathaṁ anukkamamāno na passeyya pākārasandhiṁ vā pākāravivaraṁ vā, antamaso biḷāranikkhamanamattampi.
No ca khvassa evaṁ ñāṇaṁ hoti: ‘ettakā pāṇā imaṁ nagaraṁ pavisanti vā nikkhamanti vā’ti.
Atha khvassa evamettha hoti: ‘ye kho keci oḷārikā pāṇā imaṁ nagaraṁ pavisanti vā nikkhamanti vā, sabbe te iminā dvārena pavisanti vā nikkhamanti vā’ti.
Evamevaṁ kho, āvuso uttiya, na tathāgatassa evaṁ ussukkaṁ hoti: ‘sabbo vā tena loko nīyati, upaḍḍho vā, tibhāgo vā’ti.
Atha kho evamettha tathāgatassa hoti: ‘ye kho keci lokamhā nīyiṁsu vā nīyanti vā nīyissanti vā, sabbe te pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā, satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā.
Evamete lokamhā nīyiṁsu vā nīyanti vā nīyissanti vā’ti.
Yadeva kho tvaṁ, āvuso uttiya, bhagavantaṁ pañhaṁ apucchi tadevetaṁ pañhaṁ bhagavantaṁ aññena pariyāyena apucchi.
Tasmā te taṁ bhagavā na byākāsī”ti.
Pañcamaṁ.