TTC 1Một thời, Tôn giả Mahàkaccàna trú giữa dân chúng Avanti, ở Kuraraghara, tại một vực núi cao. Bấy giờ có nữ cư sĩ Kàlì, trú ở Kuraraghara, đi đến Tôn giả Mahàkaccàna, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Kàlì trú ở Kuraraghara thưa với Tôn giả Mahàkaccàna:
TTC 2—Thưa Tôn giả, Thế Tôn có nói như sau trong các câu hỏi của thiếu nữ:
“Ta đạt được mục đích, Tâm Ta được an tịnh, Sau khi đã chiến thắng, Ðội quân sắc khả ái, Ta thiền định một mình, Ðược an lạc Chánh giác. Do vậy, Ta không có, Làm bạn với quần chúng, Làm bạn với một ai, Không phải việc Ta làm.”
Thưa Tôn giả, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn cần phải được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?
TTC 3—Này Nữ cư sĩ, có số Sa-môn, Bà-la-môn tối thượng thiện xảo trong sự chứng đạt Thiền án đất, có thể thực hiện được mục đích của họ. Này nữ tu sĩ, nhưng Thế Tôn đã được thắng tri tối thượng thiện xảo trong sự chứng đạt Thiền án đất, sau khi thắng tri như vậy, Thế Tôn đã thấy sự tập khởi, đã thấy sự nguy hại, đã thấy sự xuất ly, đã thấy tri kiến về đạo và phi đạo. Do nhân thấy được sự tập khởi, do nhân thấy được sự nguy hại, do sự thấy được sự xuất ly, do nhân thấy được tri kiến về đạo và phi đạo, Ngài rõ biết mục đích đã đạt được, tâm đã được an tịnh. Này Nữ cư sĩ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tối thượng thiện xảo trong sự chứng đạt Thiền án nước… Thiền án lửa… Thiền án gió… Thiền án xanh… Thiền án vàng… Thiền án đỏ… Thiền án trắng… Thiền án hư không… Thiền án thức, có thể thực hiện được mục đích của họ. Này Nữ cư sĩ, nhưng Thế Tôn đã thắng tri tối thượng thiện xảo trong sự chứng đạt Thiền án thức, sau khi thắng tri như vậy, Thế Tôn đã thấy sự tập khởi, đã thấy sự nguy hại, đã thấy sự xuất ly, đã thấy tri khiến về đạo và phi đạo. Do nhân thấy được sự tập khởi, do nhân thấy được sự nguy hại, do nhân thấy được sự xuất ly, do nhân thấy được tri kiến về đạo và phi đạo, Ngài rõ biết mục đích đã đạt được, tâm đã được an tịnh. Do vậy, này nữ cư sĩ, Thế Tôn có nói như sau, trong các câu hỏi của thiếu nữ:
“Ta đạt được mục đích, Tâm Ta được an tịnh, Sau khi đã chiến thắng, Ðội quân sắc khả ái, Ta Thiền định một mình, Ðược an lạc Chánh giác. Do vậy, Ta không có Làm bạn với quần chúng Làm bạn với một ai, Không phải việc Ta làm.”
Này Nữ cư sĩ, lời vắn tắt này của Thế Tôn cần phải được thấy ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati kuraraghare pavatte pabbate.
Atha kho kāḷī upāsikā kuraragharikā yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho kāḷī upāsikā kuraragharikā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“vuttamidaṁ, bhante, bhagavatā kumāripañhesu:
‘Atthassa pattiṁ hadayassa santiṁ,
Jetvāna senaṁ piyasātarūpaṁ;
Ekohaṁ jhāyaṁ sukhamanubodhiṁ,
Tasmā janena na karomi sakkhiṁ;
Sakkhī na sampajjati kenaci me’ti.
Imassa kho, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Pathavīkasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini, eke samaṇabrāhmaṇā ‘attho’ti abhinibbattesuṁ.
Yāvatā kho, bhagini, pathavīkasiṇasamāpattiparamatā, tadabhiññāsi bhagavā.
Tadabhiññāya bhagavā assādamaddasa ādīnavamaddasa nissaraṇamaddasa maggāmaggañāṇadassanamaddasa.
Tassa assādadassanahetu ādīnavadassanahetu nissaraṇadassanahetu maggāmaggañāṇadassanahetu atthassa patti hadayassa santi viditā hoti.
Āpokasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …pe…
tejokasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
vāyokasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
nīlakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
pītakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
lohitakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
odātakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
ākāsakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
viññāṇakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini, eke samaṇabrāhmaṇā ‘attho’ti abhinibbattesuṁ.
Yāvatā kho, bhagini, viññāṇakasiṇasamāpattiparamatā, tadabhiññāsi bhagavā.
Tadabhiññāya bhagavā assādamaddasa … ādīnavamaddasa … nissaraṇamaddasa … maggāmaggañāṇadassanamaddasa …
tassa assādadassanahetu ādīnavadassanahetu nissaraṇadassanahetu maggāmaggañāṇadassanahetu atthassa patti hadayassa santi viditā hoti.
Iti kho, bhagini, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā kumāripañhesu:
‘Atthassa pattiṁ hadayassa santiṁ,
Jetvāna senaṁ piyasātarūpaṁ;
Ekohaṁ jhāyaṁ sukhamanubodhiṁ,
Tasmā janena na karomi sakkhiṁ;
Sakkhī na sampajjati kenaci me’ti.
Imassa kho, bhagini, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Chaṭṭhaṁ.
At one time Venerable Mahākaccāna was staying in the land of the Avantis near Kuraraghara on Steep Mountain.
Then the laywoman Kāḷī of Kurughara went up to Venerable Mahākaccāna, bowed, sat down to one side, and said to him,
“Sir, this was said by the Buddha in ‘The Maidens’ Questions’:
‘I’ve reached the goal, peace of heart.
Having conquered the army of the likable and pleasant,
alone, practicing absorption, I awakened to bliss.
That’s why I don’t get too close to people,
and no-one gets too close to me.’
How should we see the detailed meaning of the Buddha’s brief statement?”
“Sister, some ascetics and brahmins regard the attainment of the meditation on universal earth to be the ultimate. Thinking ‘this is the goal’, they are reborn.
The Buddha directly knew the extent to which the attainment of the meditation on universal earth was the ultimate.
Directly knowing this he saw the beginning, the drawback, and the escape. And he saw the knowledge and vision of what is the path and what is not the path.
Because he saw the beginning, the drawback, and the escape, and he saw the knowledge and vision of what is the path and what is not the path, he knew that he had reached the goal, peace of heart.
Some ascetics and brahmins regard the attainment of the meditation on universal water to be the ultimate. Thinking ‘this is the goal’, they are reborn. …
Some ascetics and brahmins regard the attainment of the meditation on universal fire …
universal air …
universal blue …
universal yellow …
universal red …
universal white …
universal space …
universal consciousness to be the ultimate. Thinking ‘this is the goal’, they are reborn.
The Buddha directly knew the extent to which the attainment of the meditation on universal consciousness was the ultimate.
Directly knowing this he saw the beginning, the drawback, and the escape. And he saw the knowledge and vision of what is the path and what is not the path.
Because he saw the beginning, the drawback, and the escape, and he saw the knowledge and vision of what is the path and what is not the path, he knew that he had reached the goal, peace of heart.
So, sister, that’s how to understand the detailed meaning of what the Buddha said in brief in ‘The Maiden’s Questions’:
‘I’ve reached the goal, peace of heart.
Having conquered the army of the likable and pleasant,
alone, practicing absorption, I awakened to bliss.
That’s why I don’t get too close to people,
and no-one gets too close to me.’”
TTC 1Một thời, Tôn giả Mahàkaccàna trú giữa dân chúng Avanti, ở Kuraraghara, tại một vực núi cao. Bấy giờ có nữ cư sĩ Kàlì, trú ở Kuraraghara, đi đến Tôn giả Mahàkaccàna, sau khi đến đảnh lễ Tôn giả, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nữ cư sĩ Kàlì trú ở Kuraraghara thưa với Tôn giả Mahàkaccàna:
TTC 2—Thưa Tôn giả, Thế Tôn có nói như sau trong các câu hỏi của thiếu nữ:
“Ta đạt được mục đích, Tâm Ta được an tịnh, Sau khi đã chiến thắng, Ðội quân sắc khả ái, Ta thiền định một mình, Ðược an lạc Chánh giác. Do vậy, Ta không có, Làm bạn với quần chúng, Làm bạn với một ai, Không phải việc Ta làm.”
Thưa Tôn giả, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn cần phải được hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?
TTC 3—Này Nữ cư sĩ, có số Sa-môn, Bà-la-môn tối thượng thiện xảo trong sự chứng đạt Thiền án đất, có thể thực hiện được mục đích của họ. Này nữ tu sĩ, nhưng Thế Tôn đã được thắng tri tối thượng thiện xảo trong sự chứng đạt Thiền án đất, sau khi thắng tri như vậy, Thế Tôn đã thấy sự tập khởi, đã thấy sự nguy hại, đã thấy sự xuất ly, đã thấy tri kiến về đạo và phi đạo. Do nhân thấy được sự tập khởi, do nhân thấy được sự nguy hại, do sự thấy được sự xuất ly, do nhân thấy được tri kiến về đạo và phi đạo, Ngài rõ biết mục đích đã đạt được, tâm đã được an tịnh. Này Nữ cư sĩ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn tối thượng thiện xảo trong sự chứng đạt Thiền án nước… Thiền án lửa… Thiền án gió… Thiền án xanh… Thiền án vàng… Thiền án đỏ… Thiền án trắng… Thiền án hư không… Thiền án thức, có thể thực hiện được mục đích của họ. Này Nữ cư sĩ, nhưng Thế Tôn đã thắng tri tối thượng thiện xảo trong sự chứng đạt Thiền án thức, sau khi thắng tri như vậy, Thế Tôn đã thấy sự tập khởi, đã thấy sự nguy hại, đã thấy sự xuất ly, đã thấy tri khiến về đạo và phi đạo. Do nhân thấy được sự tập khởi, do nhân thấy được sự nguy hại, do nhân thấy được sự xuất ly, do nhân thấy được tri kiến về đạo và phi đạo, Ngài rõ biết mục đích đã đạt được, tâm đã được an tịnh. Do vậy, này nữ cư sĩ, Thế Tôn có nói như sau, trong các câu hỏi của thiếu nữ:
“Ta đạt được mục đích, Tâm Ta được an tịnh, Sau khi đã chiến thắng, Ðội quân sắc khả ái, Ta Thiền định một mình, Ðược an lạc Chánh giác. Do vậy, Ta không có Làm bạn với quần chúng Làm bạn với một ai, Không phải việc Ta làm.”
Này Nữ cư sĩ, lời vắn tắt này của Thế Tôn cần phải được thấy ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno avantīsu viharati kuraraghare pavatte pabbate.
Atha kho kāḷī upāsikā kuraragharikā yenāyasmā mahākaccāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho kāḷī upāsikā kuraragharikā āyasmantaṁ mahākaccānaṁ etadavoca:
“vuttamidaṁ, bhante, bhagavatā kumāripañhesu:
‘Atthassa pattiṁ hadayassa santiṁ,
Jetvāna senaṁ piyasātarūpaṁ;
Ekohaṁ jhāyaṁ sukhamanubodhiṁ,
Tasmā janena na karomi sakkhiṁ;
Sakkhī na sampajjati kenaci me’ti.
Imassa kho, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa kathaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti?
“Pathavīkasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini, eke samaṇabrāhmaṇā ‘attho’ti abhinibbattesuṁ.
Yāvatā kho, bhagini, pathavīkasiṇasamāpattiparamatā, tadabhiññāsi bhagavā.
Tadabhiññāya bhagavā assādamaddasa ādīnavamaddasa nissaraṇamaddasa maggāmaggañāṇadassanamaddasa.
Tassa assādadassanahetu ādīnavadassanahetu nissaraṇadassanahetu maggāmaggañāṇadassanahetu atthassa patti hadayassa santi viditā hoti.
Āpokasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …pe…
tejokasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
vāyokasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
nīlakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
pītakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
lohitakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
odātakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
ākāsakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini …
viññāṇakasiṇasamāpattiparamā kho, bhagini, eke samaṇabrāhmaṇā ‘attho’ti abhinibbattesuṁ.
Yāvatā kho, bhagini, viññāṇakasiṇasamāpattiparamatā, tadabhiññāsi bhagavā.
Tadabhiññāya bhagavā assādamaddasa … ādīnavamaddasa … nissaraṇamaddasa … maggāmaggañāṇadassanamaddasa …
tassa assādadassanahetu ādīnavadassanahetu nissaraṇadassanahetu maggāmaggañāṇadassanahetu atthassa patti hadayassa santi viditā hoti.
Iti kho, bhagini, yaṁ taṁ vuttaṁ bhagavatā kumāripañhesu:
‘Atthassa pattiṁ hadayassa santiṁ,
Jetvāna senaṁ piyasātarūpaṁ;
Ekohaṁ jhāyaṁ sukhamanubodhiṁ,
Tasmā janena na karomi sakkhiṁ;
Sakkhī na sampajjati kenaci me’ti.
Imassa kho, bhagini, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Chaṭṭhaṁ.