—Rồi có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi làm lễ tế đàn và khuyên các người khác làm lễ tế đàn. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, ai làm lễ tế đàn và ai khuyên các người khác làm lễ tế đàn, tất cả đều thực hành con đường đưa đến công đức cho nhiều người, tức là kết quả của tế đàn. Thưa Tôn giả Gotama, ai xuất gia, từ bỏ gia tộc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ nhiếp phục một tự ngã của mình, chỉ an tịnh một tự ngã của mình, chỉ làm cho một tự ngã chứng được Niết-bàn. Như vậy, người ấy thực hành con đường đưa đến công đức chỉ có một mình, tức là kết quả của sự xuất gia.
—Vậy này Bà-la-môn, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy như vậy trả lời. Ông nghĩ như thế nào, này Bà-la-môn, ở đây, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy nói như sau: “Ðây là con đường, đây là đạo lộ, nhờ thực hành con đường này, Ta đã thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết. Các người hãy đến! Hãy như vậy thực hành! Các người sẽ thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú”. Như vậy, vị Ðạo sư này thuyết pháp, và các người khác như thật hành trì. Số người như vậy là hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự việc là như vậy, thời con đường đưa đến công đức này ảnh hưởng chỉ đến một người hay ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia?
—Sự việc này là như vậy, thưa Tôn giả Gotama, con đường đưa đến công đức này là ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia.
Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Trong hai con đường, này Bà-la-môn, con đường nào, Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn và lợi ích hơn?
Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.
Lần thứ hai, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy: “Những ai là đáng đảnh lễ, hay những ai là đáng tán thán?” Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?”
Lần thứ hai, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng đảnh lễ và đáng tán thán.
Lần thứ ba, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy: “Những ai là đáng kính lễ, hay những ai là đáng tán thán? “Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?”
Lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.
TTC 3Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: “Cho đến lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava, được hỏi một câu đúng pháp lại tránh né, không trả lời. Vậy Ta hãy giải tỏa việc này”.
Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, câu chuyện gì đã khởi lên hôm nay trong cung điện Nhà Vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại?
—Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay, trong cung điện nhà vua, câu chuyện như sau đã khởi lên, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại: “Thuở xưa, các Tỷ-kheo ít hơn, nhưng nhiều hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện. Ngày nay, các Tỷ-kheo nhiều hơn, nhưng ít hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện.” Thưa Tôn giả Gotama, đấy là câu chuyện đã khởi lên hôm nay trong cung điện nhà vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại.
TTC 4—Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông. Thế nào là ba? Thần thông biến hóa, thần thông ký thuyết, thần thông giáo hóa, và Bà-la-môn, thế nào là thần thông biến hóa?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước, không nứt r … (như trên) … liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên.
TTC 5Và này Bà-la-môn, thế nào là thần thông ký thuyết?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên nhờ tướng: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, nhưng sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy tầm và suy tư liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, không nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, sau khi suy tầm và suy tư. Những thành tựu định không tầm không tứ, với tâm của mình biết rõ tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông ký thuyết.
TTC 6Và như thế nào, này Bà-la-môn, là thần thông giáo hóa?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú!”. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông giáo hóa. Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông này.
Trong ba loại thần thông này, Ông có thể chấp nhận loại thần thông nào là hy hữu hơn, thù diệu hơn?
—Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, loại thần thông này: Ở đây có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước, không nứt r … (như trên) … liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa.
Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người nói lên nhờ tướng: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, nhưng sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy tầm và suy tư liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, không nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, sau khi suy tầm và suy tư. Những thành tựu định không tầm không tứ, với tâm của mình biết rõ tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa.
Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú”. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, tôi có thể chấp nhận là hy hữu hơn và thù diệu hơn trong ba loại thần thông.
Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Vấn đề này được Tôn giả Gotama khéo nói như vậy, Chúng tôi thọ trì rằng Tôn giả Gotama có thành tựu cả ba loại thần thông này. Thật vậy, Tôn giả Gotama có thể chứng được nhiều loại thần thông … Thật vậy, Tôn giả Gotama thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Thật vậy, Tôn giả Gotama giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt đến cái này và an trú!”.
TTC 7—Thật vậy, này Bà-la-môn, lời nói của Ông trước như là chống ta, sau xích lại gần ta. Và Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Bà-la-môn, Ta chứng được nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, … Này Bà-la-môn, ta thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của Ta hướng đến chỗ nào, thời tâm của Ta lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Này Bà-la-môn, Ta có thể giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy. Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt được cái này và an trú!”.
—Thưa Tôn giả Gotama, có một Tỷ-kheo nào khác, cũng thành tựu được ba loại thần thông này, ngoài Tôn giả Gotama?
—Này Bà-la-môn, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn nữa các Tỷ-kheo thành tựu được ba loại thần thông này.
—Nhưng thưa Tôn giả Gotama, nay các Tỳ kheo ấy hiện ở đâu?
—Này Bà-la-môn, trong chúng Tỷ-kheo này.
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Atha kho saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“mayamassu, bho gotama, brāhmaṇā nāma.
Yaññaṁ yajāmapi yajāpemapi.
Tatra, bho gotama, yo ceva yajati yo ca yajāpeti sabbe te anekasārīrikaṁ puññappaṭipadaṁ paṭipannā honti, yadidaṁ yaññādhikaraṇaṁ.
Yo panāyaṁ, bho gotama, yassa vā tassa vā kulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito ekamattānaṁ dameti, ekamattānaṁ sameti, ekamattānaṁ parinibbāpeti, evamassāyaṁ ekasārīrikaṁ puññappaṭipadaṁ paṭipanno hoti, yadidaṁ pabbajjādhikaraṇan”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
idha tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
So evamāha:
‘ethāyaṁ maggo ayaṁ paṭipadā yathāpaṭipanno ahaṁ anuttaraṁ brahmacariyogadhaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedemi;
etha, tumhepi tathā paṭipajjatha, yathāpaṭipannā tumhepi anuttaraṁ brahmacariyogadhaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Iti ayañceva satthā dhammaṁ deseti, pare ca tathatthāya paṭipajjanti, tāni kho pana honti anekānipi satāni anekānipi sahassāni anekānipi satasahassāni.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
iccāyaṁ evaṁ sante ekasārīrikā vā puññappaṭipadā hoti anekasārīrikā vā, yadidaṁ pabbajjādhikaraṇan”ti?
“Iccāyampi, bho gotama, evaṁ sante anekasārīrikā puññappaṭipadā hoti, yadidaṁ pabbajjādhikaraṇan”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā”ti?
Evaṁ vutte, saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando.
Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“na kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, evaṁ pucchāmi:
‘ke vā te pujjā ke vā te pāsaṁsā’ti?
Evaṁ kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, pucchāmi:
‘imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā’”ti?
Dutiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando.
Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“na kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, evaṁ pucchāmi:
‘ke vā te pujjā ke vā te pāsaṁsā’ti?
Evaṁ kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, pucchāmi:
‘imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā’”ti?
Tatiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando.
Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“yāva tatiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo ānandena sahadhammikaṁ pañhaṁ puṭṭho saṁsādeti no vissajjeti.
Yannūnāhaṁ parimoceyyan”ti.
Atha kho bhagavā saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“kā nvajja, brāhmaṇa, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādī”ti?
“Ayaṁ khvajja, bho gotama, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādi:
‘pubbe sudaṁ appatarā ceva bhikkhū ahesuṁ bahutarā ca uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassesuṁ;
etarahi pana bahutarā ceva bhikkhū appatarā ca uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassentī’ti.
Ayaṁ khvajja, bho gotama, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādī”ti.
“Tīṇi kho imāni, brāhmaṇa, pāṭihāriyāni.
Katamāni tīṇi?
Iddhipāṭihāriyaṁ, ādesanāpāṭihāriyaṁ, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, brāhmaṇa, iddhipāṭihāriyaṁ?
Idha, brāhmaṇa, ekacco anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti: ‘ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasati parimajjati, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti’.
Idaṁ vuccati, brāhmaṇa, iddhipāṭihāriyaṁ.
Katamañca, brāhmaṇa, ādesanāpāṭihāriyaṁ?
Idha, brāhmaṇa, ekacco nimittena ādisati:
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati:
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati:
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti:
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amuṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti.
So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idaṁ vuccati, brāhmaṇa, ādesanāpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, brāhmaṇa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ?
Idha, brāhmaṇa, ekacco evamanusāsati:
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti.
Idaṁ vuccati, brāhmaṇa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Imāni kho, brāhmaṇa, tīṇi pāṭihāriyāni.
Imesaṁ te, brāhmaṇa, tiṇṇaṁ pāṭihāriyānaṁ katamaṁ pāṭihāriyaṁ khamati abhikkantatarañca paṇītatarañcā”ti?
“Tatra, bho gotama, yadidaṁ pāṭihāriyaṁ idhekacco anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti …pe…
yāva brāhmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti,
idaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ yova naṁ karoti sova naṁ paṭisaṁvedeti, yova naṁ karoti tasseva taṁ hoti.
Idaṁ me, bho gotama, pāṭihāriyaṁ māyāsahadhammarūpaṁ viya khāyati.
Yampidaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ idhekacco nimittena ādisati:
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti, so bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, bho gotama, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati …pe…
napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati …pe…
napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti:
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amhaṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti, so bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idampi, bho gotama, pāṭihāriyaṁ yova naṁ karoti sova naṁ paṭisaṁvedeti, yova naṁ karoti tasseva taṁ hoti.
Idampi me, bho gotama, pāṭihāriyaṁ māyāsahadhammarūpaṁ viya khāyati.
Yañca kho idaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ idhekacco evaṁ anusāsati:
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti.
Idameva, bho gotama, pāṭihāriyaṁ khamati imesaṁ tiṇṇaṁ pāṭihāriyānaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama.
Yāvasubhāsitamidaṁ bhotā gotamena imehi ca mayaṁ tīhi pāṭihāriyehi samannāgataṁ bhavantaṁ gotamaṁ dhārema.
Bhavañhi gotamo anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti,
bhavañhi gotamo avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti:
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amuṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti.
Bhavañhi gotamo evamanusāsati:
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’”ti.
“Addhā kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, āsajja upanīya vācā bhāsitā;
api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Ahañhi, brāhmaṇa, anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhomi …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattemi.
Ahañhi, brāhmaṇa, avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā, imassa cittassa anantarā amuṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti.
Ahañhi, brāhmaṇa, evamanusāsāmi:
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’”ti.
“Atthi pana, bho gotama, añño ekabhikkhupi yo imehi tīhi pāṭihāriyehi samannāgato, aññatra bhotā gotamenā”ti?
“Na kho, brāhmaṇa, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova, ye bhikkhū imehi tīhi pāṭihāriyehi samannāgatā”ti.
“Kahaṁ pana, bho gotama, etarahi te bhikkhū viharantī”ti?
“Imasmiṁyeva kho, brāhmaṇa, bhikkhusaṅghe”ti.
“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dasamaṁ.
Brāhmaṇavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Dve brāhmaṇā caññataro,
paribbājakena nibbutaṁ;
Palokavaccho tikaṇṇo,
soṇi saṅgāravena cāti.
SC 1Then the brahmin Saṅgārava approached the Blessed One and exchanged greetings with him…. Then, sitting to one side, the brahmin Saṅgārava said this to the Blessed One:
SC 2“Master Gotama, we brahmins sacrifice and enjoin others to offer sacrifices. Now both one who himself sacrifices and one who enjoins others to offer sacrifices engage in a meritorious practice that extends to many people, that is, one based on sacrifice. But one who leaves his family and goes forth from the household life into homelessness tames only himself, calms only himself, and leads to nibbāna only himself. In such a case, he engages in a meritorious practice that extends to only one person, that is, one based on going forth.”
SC 3“Well then, brahmin, I will question you about this matter. You should answer as you see fit. What do you think, brahmin? Here, a Tathāgata arises in the world, an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, an Enlightened One, a Blessed One. He says thus: ‘Come, this is the path, this is the way. Practicing in accordance with it, I have realized for myself with direct knowledge the unsurpassed culmination of the spiritual life and make it known to others. Come, you too practice thus. Practicing in accordance with it, you too will realize for yourselves with direct knowledge the unsurpassed culmination of the spiritual life and dwell in it.’ Thus the teacher teaches this Dhamma and others an.i.169 practice accordingly. There are many hundreds, many thousands, many hundreds of thousands who do so. What do you think? When this is the case, is that act of going forth a meritorious practice that extends to one person or to many people?”
SC 4“When that is the case, Master Gotama, this is a meritorious practice that extends to many people, that is, one based on going forth.”
SC 5When this was said, the Venerable Ānanda said to the brahmin Saṅgārava: “Of these two practices, brahmin, which appeals to you more as being simpler and less harmful, and as being more fruitful and beneficial?”
SC 6Thereupon the brahmin Saṅgārava said to the Venerable Ānanda: “I consider Master Gotama and Master Ānanda worthy of veneration and praise.”
SC 7A second time the Venerable Ānanda said to the brahmin: “Brahmin, I am not asking you whom you consider worthy of veneration and praise. I am asking you which of those two practices appeals to you as being simpler and less harmful, and also as more fruitful and beneficial?”
SC 8But a second time the brahmin Saṅgārava replied: “I consider Master Gotama and Master Ānanda worthy of veneration and praise.”
SC 9A third time the Venerable Ānanda said to the brahmin: “Brahmin, I am not asking you whom you consider worthy of veneration and praise. I am asking you which of those two practices appeals to you as being simpler and less harmful, and also as more fruitful and beneficial?”
SC 10But a third time the brahmin Saṅgārava replied: “I consider Master Gotama and Master Ānanda worthy of veneration and praise.” an.i.170
SC 11Then the Blessed One thought: “Even for a third time the brahmin Saṅgārava, on being asked a legitimate question by Ānanda, falters and does not answer. Let me release him.” Then the Blessed One said to the brahmin Saṅgārava: “What conversation, brahmin, arose today among the king’s retinue when they assembled and were sitting in the royal palace?”
SC 12“The conversation was this, Master Gotama: ‘Formerly there were fewer bhikkhus, but more who displayed superhuman wonders of psychic potency. But now there are more bhikkhus, but fewer who display superhuman wonders of psychic potency.’ This was the conversation that arose today among the king’s retinue.”
SC 13“There are, brahmin, these three kinds of wonders. What three? The wonder of psychic potency, the wonder of mind-reading, and the wonder of instruction.
SC 14(1) “And what, brahmin, is the wonder of psychic potency? Here, a bhikkhu wields the various kinds of psychic potency: having been one, he becomes many; having been many, he becomes one; he appears and vanishes; he goes unhindered through a wall, through a rampart, through a mountain as though through space; he dives in and out of the earth as though it were water; he walks on water without sinking as though it were earth; seated cross-legged, he travels in space like a bird; with his hand he touches and strokes the moon and sun so powerful and mighty; he exercises mastery with the body as far as the brahmā world. This is called the wonder of psychic potency.
SC 15(2) “And what, brahmin, is the wonder of mind-reading? There is one who, by means of some clue, declares: ‘Your thought is thus, such is what you are thinking, your mind is in such and such a state.’ And even if he makes many declarations, they are exactly so and not otherwise.
SC 16“Again, someone does not declare the state of mind on the basis of a clue, an.i.171 but he hears the sound of people, spirits, or deities speaking and then declares: ‘Your thought is thus, such is what you are thinking, your mind is in such and such a state.’ And even if he makes many declarations, they are exactly so and not otherwise.
SC 17“Again, someone does not declare the state of mind on the basis of a mark, or by hearing the sound of people, spirits, or deities speaking, but he hears the sound of the diffusion of thought as one is thinking and examining some matter and then declares: ‘Your thought is thus, such is what you are thinking, your mind is in such and such a state.’ And even if he makes many declarations, they are exactly so and not otherwise.
SC 18“Again, someone does not declare the state of mind on the basis of a mark, or by hearing the sound of people, spirits, or deities speaking, or by hearing the sound of the diffusion of thought as one is thinking and examining some matter, but with his own mind he encompasses the mind of one who has attained concentration without thought and examination and he understands: ‘This person’s mental activities are so disposed that immediately afterward he will think this thought.’ And even if he makes many declarations, they are exactly so and not otherwise. This is called the wonder of mind-reading.
SC 19(3) “And what, brahmin, is the wonder of instruction? Here, someone instructs others thus: ‘Think in this way and not in that way! Attend to this and not to that! Abandon this and enter and dwell in that!’ This is called the wonder of instruction.
SC 20“These, brahmin, are the three kinds of wonders. Of these three wonders, which appeals to you as the most excellent and sublime?”
SC 21“Among these, Master Gotama, when someone performs this wonder by which he wields the various kinds of psychic potency … exercises mastery with the body as far as the brahmā world, only the one who performs this wonder experiences it and it occurs only to him. This wonder seems to me like a magical trick.
SC 22“Again, Master Gotama, when someone performs this wonder by which he declares another’s state of mind on the basis of a clue … by hearing the sound of people, spirits, or deities … by hearing the sound of the diffusion of thought while he is thinking and examining some matter … by encompassing with his own mind the mind of one who has attained concentration that is without thought and examination such that he understands: an.i.172 ‘This person’s mental activities are so disposed that immediately afterward he will think this thought,’ and, even if he makes many declarations, they are exactly so and not otherwise—again, only the one who performs this wonder experiences it and it occurs only to him. This wonder, too, seems to me like a magical trick.
SC 23“But, Master Gotama, when someone performs this wonder by which he instructs others thus: ‘Think in this way and not in that way! Attend to this and not to that! Abandon this and enter and dwell in that!’—this wonder appeals to me as the most excellent and sublime of those three wonders.
SC 24“It is astounding and amazing, Master Gotama, how well this has been stated by Master Gotama! We consider Master Gotama to be one who can perform these three wonders. For Master Gotama wields the various kinds of psychic potency … exercises mastery with the body as far as the brahmā world. Master Gotama encompasses with his own mind the mind of one who has attained concentration that is without thought and examination such that he understands: ‘This person’s mental activities are so disposed that immediately afterward he will think this thought.’ And Master Gotama instructs others thus: ‘Think in this way and not in that way! Attend to this and not to that! Abandon this and enter and dwell in that!’”
SC 25“Surely, brahmin, your words are prying and intrusive. Nevertheless, I will answer you. I do wield the various kinds of psychic potency … exercise mastery with the body as far as the brahmā world. I do encompass with my own mind the mind of one who has attained a state of concentration that is without thought and examination such that I understand: ‘This person’s mental activities are so disposed that immediately afterward he will think this thought.’ And I do instruct others thus: ‘Think in this way and not in that way! Attend to this and not to that! Abandon this and enter and dwell in that!’”
SC 26“But, Master Gotama, is there even one other bhikkhu apart from Master Gotama who can perform these three wonders?”
SC 27“There is not just one hundred, two hundred, three hundred, four hundred, or five hundred bhikkhus, but even more who can perform these three wonders.”
SC 28“But where are those bhikkhus presently dwelling?” an.i.173
“Right here, brahmin, in this Saṅgha of bhikkhus.”
SC 29“Excellent, Master Gotama! … Let Master Gotama consider me a lay follower who from today has gone for refuge for life.”
—Rồi có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi làm lễ tế đàn và khuyên các người khác làm lễ tế đàn. Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, ai làm lễ tế đàn và ai khuyên các người khác làm lễ tế đàn, tất cả đều thực hành con đường đưa đến công đức cho nhiều người, tức là kết quả của tế đàn. Thưa Tôn giả Gotama, ai xuất gia, từ bỏ gia tộc, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, chỉ nhiếp phục một tự ngã của mình, chỉ an tịnh một tự ngã của mình, chỉ làm cho một tự ngã chứng được Niết-bàn. Như vậy, người ấy thực hành con đường đưa đến công đức chỉ có một mình, tức là kết quả của sự xuất gia.
—Vậy này Bà-la-môn, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy như vậy trả lời. Ông nghĩ như thế nào, này Bà-la-môn, ở đây, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiên Tuệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy nói như sau: “Ðây là con đường, đây là đạo lộ, nhờ thực hành con đường này, Ta đã thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết. Các người hãy đến! Hãy như vậy thực hành! Các người sẽ thể nhập vô thượng Phạm hạnh, tự mình với thắng trí, chứng đạt và an trú”. Như vậy, vị Ðạo sư này thuyết pháp, và các người khác như thật hành trì. Số người như vậy là hàng trăm, hàng ngàn, hàng trăm ngàn. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, sự việc là như vậy, thời con đường đưa đến công đức này ảnh hưởng chỉ đến một người hay ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia?
—Sự việc này là như vậy, thưa Tôn giả Gotama, con đường đưa đến công đức này là ảnh hưởng đến nhiều người, tức là kết quả của sự xuất gia.
Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Trong hai con đường, này Bà-la-môn, con đường nào, Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn và lợi ích hơn?
Ðược nói như vậy, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.
Lần thứ hai, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy: “Những ai là đáng đảnh lễ, hay những ai là đáng tán thán?” Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?”
Lần thứ hai, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng đảnh lễ và đáng tán thán.
Lần thứ ba, Tôn giả Ananda nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, Ta không hỏi Ông như vậy: “Những ai là đáng kính lễ, hay những ai là đáng tán thán? “Này Bà-la-môn, như thế này Ta hỏi Ông: “Này Bà-la-môn, trong hai con đường này, con đường nào Ông có thể kham nhẫn là giản dị hơn, ít khó chịu hơn, kết quả lớn hơn, lợi ích lớn hơn?”
Lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava nói với Tôn giả Ananda:
—Như Tôn giả Gotama và Tôn giả Ananda, cả hai đối với tôi là đáng kính lễ và đáng tán thán.
TTC 3Rồi Thế Tôn suy nghĩ như sau: “Cho đến lần thứ ba, Bà-la-môn Sangàrava, được hỏi một câu đúng pháp lại tránh né, không trả lời. Vậy Ta hãy giải tỏa việc này”.
Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sangàrava:
—Này Bà-la-môn, câu chuyện gì đã khởi lên hôm nay trong cung điện Nhà Vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại?
—Thưa Tôn giả Gotama, hôm nay, trong cung điện nhà vua, câu chuyện như sau đã khởi lên, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại: “Thuở xưa, các Tỷ-kheo ít hơn, nhưng nhiều hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện. Ngày nay, các Tỷ-kheo nhiều hơn, nhưng ít hơn là các pháp thượng nhân, các thần thông thần biến được thị hiện.” Thưa Tôn giả Gotama, đấy là câu chuyện đã khởi lên hôm nay trong cung điện nhà vua, khi hội chúng nhà vua ngồi tụ họp lại.
TTC 4—Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông. Thế nào là ba? Thần thông biến hóa, thần thông ký thuyết, thần thông giáo hóa, và Bà-la-môn, thế nào là thần thông biến hóa?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước, không nứt r … (như trên) … liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên.
TTC 5Và này Bà-la-môn, thế nào là thần thông ký thuyết?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên nhờ tướng: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tà tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, nhưng sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy tầm và suy tư liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác.
Ở đây, này Bà-la-môn, có người không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, không nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, sau khi suy tầm và suy tư. Những thành tựu định không tầm không tứ, với tâm của mình biết rõ tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông ký thuyết.
TTC 6Và như thế nào, này Bà-la-môn, là thần thông giáo hóa?
Ở đây, này Bà-la-môn, có người giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú!”. Này Bà-la-môn, đây gọi là thần thông giáo hóa. Này Bà-la-môn, có ba loại thần thông này.
Trong ba loại thần thông này, Ông có thể chấp nhận loại thần thông nào là hy hữu hơn, thù diệu hơn?
—Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, loại thần thông này: Ở đây có người chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình, biến hình, đi ngang qua vách qua tường, qua núi như đi ngang qua hư không, độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước, không nứt r … (như trên) … liền, ngồi kiết già, đi trên hư không như con chim, với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm Thiên. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa.
Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người nói lên nhờ tướng: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người nói lên không nhờ tướng, nhưng nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người nói lên không nhờ tướng, cũng không nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, nhưng sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư; sau khi suy tầm và suy tư liền nói lên: “Như vầy là ý của Ông, như thế này là ý của Ông, như thế này là tâm của Ông”. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Có người không nói lên nhờ tướng, không nói lên nhờ nghe tiếng của loài người hay của phi nhân, hay của Chư Thiên, không nói lên sau khi nghe được tiếng trình bày rõ ràng và có suy tư, sau khi suy tầm và suy tư. Những thành tựu định không tầm không tứ, với tâm của mình biết rõ tâm của người khác tùy theo hành ý của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Nếu vị ấy nói lên có nhiều, cũng chỉ là như vậy, không có gì khác. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, ai làm loại thần thông ấy, người ấy tự kinh nghiệm lấy. Ai làm thần thông ấy, tự mình có được thần thông ấy. Loại thần thông này, đối với tôi, được xem tánh chất như là huyễn hóa.
Còn loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama: Ở đây có người giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này! Hãy đạt đến cái này và an trú”. Loại thần thông này, thưa Tôn giả Gotama, tôi có thể chấp nhận là hy hữu hơn và thù diệu hơn trong ba loại thần thông.
Thật là vi diệu, thưa Tôn giả Gotama! Thật là hy hữu, thưa Tôn giả Gotama! Vấn đề này được Tôn giả Gotama khéo nói như vậy, Chúng tôi thọ trì rằng Tôn giả Gotama có thành tựu cả ba loại thần thông này. Thật vậy, Tôn giả Gotama có thể chứng được nhiều loại thần thông … Thật vậy, Tôn giả Gotama thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của vị Tôn giả này hướng đến chỗ nào, thời tâm của vị này lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Thật vậy, Tôn giả Gotama giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy! Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt đến cái này và an trú!”.
TTC 7—Thật vậy, này Bà-la-môn, lời nói của Ông trước như là chống ta, sau xích lại gần ta. Và Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Bà-la-môn, Ta chứng được nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, … Này Bà-la-môn, ta thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của Ta hướng đến chỗ nào, thời tâm của Ta lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Này Bà-la-môn, Ta có thể giáo giới như sau: “Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy. Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt được cái này và an trú!”.
—Thưa Tôn giả Gotama, có một Tỷ-kheo nào khác, cũng thành tựu được ba loại thần thông này, ngoài Tôn giả Gotama?
—Này Bà-la-môn, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn nữa các Tỷ-kheo thành tựu được ba loại thần thông này.
—Nhưng thưa Tôn giả Gotama, nay các Tỳ kheo ấy hiện ở đâu?
—Này Bà-la-môn, trong chúng Tỷ-kheo này.
—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Atha kho saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“mayamassu, bho gotama, brāhmaṇā nāma.
Yaññaṁ yajāmapi yajāpemapi.
Tatra, bho gotama, yo ceva yajati yo ca yajāpeti sabbe te anekasārīrikaṁ puññappaṭipadaṁ paṭipannā honti, yadidaṁ yaññādhikaraṇaṁ.
Yo panāyaṁ, bho gotama, yassa vā tassa vā kulā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito ekamattānaṁ dameti, ekamattānaṁ sameti, ekamattānaṁ parinibbāpeti, evamassāyaṁ ekasārīrikaṁ puññappaṭipadaṁ paṭipanno hoti, yadidaṁ pabbajjādhikaraṇan”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, taññevettha paṭipucchissāmi. Yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
idha tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
So evamāha:
‘ethāyaṁ maggo ayaṁ paṭipadā yathāpaṭipanno ahaṁ anuttaraṁ brahmacariyogadhaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedemi;
etha, tumhepi tathā paṭipajjatha, yathāpaṭipannā tumhepi anuttaraṁ brahmacariyogadhaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Iti ayañceva satthā dhammaṁ deseti, pare ca tathatthāya paṭipajjanti, tāni kho pana honti anekānipi satāni anekānipi sahassāni anekānipi satasahassāni.
Taṁ kiṁ maññasi, brāhmaṇa,
iccāyaṁ evaṁ sante ekasārīrikā vā puññappaṭipadā hoti anekasārīrikā vā, yadidaṁ pabbajjādhikaraṇan”ti?
“Iccāyampi, bho gotama, evaṁ sante anekasārīrikā puññappaṭipadā hoti, yadidaṁ pabbajjādhikaraṇan”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā”ti?
Evaṁ vutte, saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando.
Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“na kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, evaṁ pucchāmi:
‘ke vā te pujjā ke vā te pāsaṁsā’ti?
Evaṁ kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, pucchāmi:
‘imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā’”ti?
Dutiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando.
Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā ānando saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“na kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, evaṁ pucchāmi:
‘ke vā te pujjā ke vā te pāsaṁsā’ti?
Evaṁ kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, pucchāmi:
‘imāsaṁ te, brāhmaṇa, dvinnaṁ paṭipadānaṁ katamā paṭipadā khamati appatthatarā ca appasamārambhatarā ca mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā cā’”ti?
Tatiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“seyyathāpi bhavaṁ gotamo bhavaṁ cānando.
Ete me pujjā, ete me pāsaṁsā”ti.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“yāva tatiyampi kho saṅgāravo brāhmaṇo ānandena sahadhammikaṁ pañhaṁ puṭṭho saṁsādeti no vissajjeti.
Yannūnāhaṁ parimoceyyan”ti.
Atha kho bhagavā saṅgāravaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“kā nvajja, brāhmaṇa, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādī”ti?
“Ayaṁ khvajja, bho gotama, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādi:
‘pubbe sudaṁ appatarā ceva bhikkhū ahesuṁ bahutarā ca uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassesuṁ;
etarahi pana bahutarā ceva bhikkhū appatarā ca uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassentī’ti.
Ayaṁ khvajja, bho gotama, rājantepure rājapurisānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ antarākathā udapādī”ti.
“Tīṇi kho imāni, brāhmaṇa, pāṭihāriyāni.
Katamāni tīṇi?
Iddhipāṭihāriyaṁ, ādesanāpāṭihāriyaṁ, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, brāhmaṇa, iddhipāṭihāriyaṁ?
Idha, brāhmaṇa, ekacco anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti: ‘ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi hutvā eko hoti; āvibhāvaṁ, tirobhāvaṁ; tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati, seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti, seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchati, seyyathāpi pathaviyaṁ; ākāsepi pallaṅkena kamati, seyyathāpi pakkhī sakuṇo; imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parimasati parimajjati, yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti’.
Idaṁ vuccati, brāhmaṇa, iddhipāṭihāriyaṁ.
Katamañca, brāhmaṇa, ādesanāpāṭihāriyaṁ?
Idha, brāhmaṇa, ekacco nimittena ādisati:
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati:
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati:
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti.
So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, brāhmaṇa, ekacco na heva kho nimittena ādisati, napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti:
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amuṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti.
So bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idaṁ vuccati, brāhmaṇa, ādesanāpāṭihāriyaṁ.
Katamañca, brāhmaṇa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ?
Idha, brāhmaṇa, ekacco evamanusāsati:
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti.
Idaṁ vuccati, brāhmaṇa, anusāsanīpāṭihāriyaṁ.
Imāni kho, brāhmaṇa, tīṇi pāṭihāriyāni.
Imesaṁ te, brāhmaṇa, tiṇṇaṁ pāṭihāriyānaṁ katamaṁ pāṭihāriyaṁ khamati abhikkantatarañca paṇītatarañcā”ti?
“Tatra, bho gotama, yadidaṁ pāṭihāriyaṁ idhekacco anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti …pe…
yāva brāhmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti,
idaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ yova naṁ karoti sova naṁ paṭisaṁvedeti, yova naṁ karoti tasseva taṁ hoti.
Idaṁ me, bho gotama, pāṭihāriyaṁ māyāsahadhammarūpaṁ viya khāyati.
Yampidaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ idhekacco nimittena ādisati:
‘evampi te mano, itthampi te mano, itipi te cittan’ti, so bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idha pana, bho gotama, ekacco na heva kho nimittena ādisati, api ca kho manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati …pe…
napi manussānaṁ vā amanussānaṁ vā devatānaṁ vā saddaṁ sutvā ādisati, api ca kho vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati …pe…
napi vitakkayato vicārayato vitakkavipphārasaddaṁ sutvā ādisati, api ca kho avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti:
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amhaṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti, so bahuñcepi ādisati tatheva taṁ hoti, no aññathā.
Idampi, bho gotama, pāṭihāriyaṁ yova naṁ karoti sova naṁ paṭisaṁvedeti, yova naṁ karoti tasseva taṁ hoti.
Idampi me, bho gotama, pāṭihāriyaṁ māyāsahadhammarūpaṁ viya khāyati.
Yañca kho idaṁ, bho gotama, pāṭihāriyaṁ idhekacco evaṁ anusāsati:
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’ti.
Idameva, bho gotama, pāṭihāriyaṁ khamati imesaṁ tiṇṇaṁ pāṭihāriyānaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Acchariyaṁ, bho gotama, abbhutaṁ, bho gotama.
Yāvasubhāsitamidaṁ bhotā gotamena imehi ca mayaṁ tīhi pāṭihāriyehi samannāgataṁ bhavantaṁ gotamaṁ dhārema.
Bhavañhi gotamo anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti,
bhavañhi gotamo avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāti:
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā imassa cittassa anantarā amuṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti.
Bhavañhi gotamo evamanusāsati:
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’”ti.
“Addhā kho tyāhaṁ, brāhmaṇa, āsajja upanīya vācā bhāsitā;
api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Ahañhi, brāhmaṇa, anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhomi …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vattemi.
Ahañhi, brāhmaṇa, avitakkaṁ avicāraṁ samādhiṁ samāpannassa cetasā ceto paricca pajānāmi:
‘yathā imassa bhoto manosaṅkhārā paṇihitā, imassa cittassa anantarā amuṁ nāma vitakkaṁ vitakkessatī’ti.
Ahañhi, brāhmaṇa, evamanusāsāmi:
‘evaṁ vitakketha, mā evaṁ vitakkayittha; evaṁ manasi karotha, mā evaṁ manasākattha; idaṁ pajahatha, idaṁ upasampajja viharathā’”ti.
“Atthi pana, bho gotama, añño ekabhikkhupi yo imehi tīhi pāṭihāriyehi samannāgato, aññatra bhotā gotamenā”ti?
“Na kho, brāhmaṇa, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova, ye bhikkhū imehi tīhi pāṭihāriyehi samannāgatā”ti.
“Kahaṁ pana, bho gotama, etarahi te bhikkhū viharantī”ti?
“Imasmiṁyeva kho, brāhmaṇa, bhikkhusaṅghe”ti.
“Abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi, dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dasamaṁ.
Brāhmaṇavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Dve brāhmaṇā caññataro,
paribbājakena nibbutaṁ;
Palokavaccho tikaṇṇo,
soṇi saṅgāravena cāti.