TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Udàyi đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:
—Thưa Hiền giả, lời này được Thiên tử Pancàlacanda nói như sau:
“Bậc thiện trí tìm được,
Giải thoát trong triền phược,
Vị giác tỉnh với Thiền,
Bậc giác giả Mâu-ni,
Bậc từ bỏ, không chấp
Bậc anh hùng ẩn sĩ.”
Thưa Hiền giả, thế nào là triền phược? Thế nào là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến?
TTC 2—Này Hiền giả, năm dục trưởng dưỡng này được Thế Tôn gọi là triền phược. Thế nào là năm?
Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Này Hiền giả, năm dục trưởng dưỡng này là triền phược, được Thế Tôn nói đến.
TTC 3Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly các dục… chứng và trú sơ Thiền. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là tầm và tứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 4Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là hỷ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 5Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là xả lạc chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 6Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đoạn lạc… chứng và trú Thiền thứ tư. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là sắc tưởng chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 7Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Không vô biên xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 8Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo biết rằng: “Thức là vô biên”, vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Thức vô biên xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 9Lại nữa, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Vô sở hữu xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 10Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Phi tưởng phi phi tưởng xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 11Lại nữa, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn diệt. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho āyasmā udāyī yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā udāyī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“vuttamidaṁ, āvuso, pañcālacaṇḍena devaputtena:
‘Sambādhe gataṁ okāsaṁ,
Avidvā bhūrimedhaso;
Yo jhānamabujjhi buddho,
Paṭilīnanisabho munī’ti.
Katamo, āvuso, sambādho, katamo sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā”ti?
“Pañcime, āvuso, kāmaguṇā sambādho vutto bhagavatā.
Katame pañca?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā,
sotaviññeyyā saddā …pe…
ghānaviññeyyā gandhā …
jivhāviññeyyā rasā …
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Ime kho, āvuso, pañca kāmaguṇā sambādho vutto bhagavatā.
Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha vitakkavicārā aniruddhā honti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha pīti aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha upekkhāsukhaṁ aniruddhaṁ hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha rūpasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha ākāsānañcāyatanasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha viññāṇañcāyatanasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha ākiñcaññāyatanasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha nevasaññānāsaññāyatanasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā nippariyāyenā”ti.
Paṭhamaṁ.
On one occasion Ven. Ananda was staying in Kosambi at Ghosita’s Park. Then Ven. Udayin went to him and, on arrival, exchanged courteous greetings. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, he said to Ven. Ananda, “This has been said by Pañcalacanda the deva’s son:
‘In a confining place, he found an opening—
the one of extensive wisdom,
the awakened one who awakened to jhana,
the chief bull, withdrawn,
the sage.’
“Now which, my friend, is the confining place? And which opening in the confining place is the Blessed One said to have attained?”
[Ven. Ananda:] “The five strings of sensuality, my friend, are described by the Blessed One as a confining place. Which five? Forms cognizable via the eye—agreeable, pleasing, charming, endearing, fostering desire, enticing; sounds cognizable via the ear… smells cognizable via the nose… tastes cognizable via the tongue… tactile sensations cognizable via the body—agreeable, pleasing, charming, endearing, fostering desire, enticing. These five strings of sensuality are described by the Blessed One as a confining place.
“Now there is the case where a monk—quite secluded from sensuality, secluded from unskillful qualities—enters & remains in the first jhana: rapture & pleasure born of seclusion, accompanied by directed thought & evaluation. Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, though followed by a sequel. For even there there’s a confining place. What is the confining place there? Just that directed thought & evaluation have not ceased. This is the confining place there.
“Then there is the case where a monk, with the stilling of directed thoughts & evaluations, enters & remains in the second jhana: rapture & pleasure born of composure, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance. Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, though followed by a sequel. For even there there’s a confining place. What is the confining place there? Just that rapture has not ceased. This is the confining place there.
“Then there is the case where a monk, with the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters & remains in the third jhana, of which the Noble Ones declare, ‘Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding.’ Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, though followed by a sequel. For even there there’s a confining place. What is the confining place there? Just that the pleasure of equanimity has not ceased. This is the confining place there.
“Then there is the case where a monk, with the abandoning of pleasure & stress—as with the earlier disappearance of elation & distress—enters & remains in the fourth jhana: purity of equanimity & mindfulness, neither-pleasure-nor-pain. Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, though followed by a sequel. For even there there’s a confining place. What is the confining place there? Just that the perception of form has not ceased. This is the confining place there.
“Then there is the case where a monk, with the complete transcending of perceptions of form, with the disappearance of perceptions of resistance, and not heeding perceptions of diversity, [perceiving,] ‘Infinite space,’ enters & remains in the dimension of the infinitude of space. Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, though followed by a sequel. For even there there’s a confining place. What is the confining place there? Just that the perception of the dimension of the infinitude of space has not ceased. This is the confining place there.
“Then there is the case where a monk, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of space, [perceiving,] ‘Infinite consciousness,’ enters & remains in the dimension of the infinitude of consciousness. Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, though followed by a sequel. For even there there’s a confining place. What is the confining place there? Just that the perception of the dimension of the infinitude of consciousness has not ceased. This is the confining place there.
“Then there is the case where a monk, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of consciousness, [perceiving,] ‘There is nothing,’ enters & remains in the dimension of nothingness. Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, though followed by a sequel. For even there there’s a confining place. What is the confining place there? Just that the perception of the dimension of nothingness has not ceased. This is the confining place there.
“Then there is the case where a monk, with the complete transcending of the dimension of nothingness, enters & remains in the dimension of neither perception nor non-perception. Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, though followed by a sequel. For even there there’s a confining place. What is the confining place there? Just that the perception of the dimension of neither perception nor non-perception has not ceased. This is the confining place there.
“Then there is the case where a monk, with the complete transcending of the dimension of neither perception nor non-perception, enters & remains in the cessation of perception & feeling. And, having seen [that] with discernment, his mental fermentations are completely ended. Even this much is described by the Blessed One as the attaining of an opening in a confining place, without a sequel.”
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Udàyi đi đến Tôn giả Ananda, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Ananda:
—Thưa Hiền giả, lời này được Thiên tử Pancàlacanda nói như sau:
“Bậc thiện trí tìm được,
Giải thoát trong triền phược,
Vị giác tỉnh với Thiền,
Bậc giác giả Mâu-ni,
Bậc từ bỏ, không chấp
Bậc anh hùng ẩn sĩ.”
Thưa Hiền giả, thế nào là triền phược? Thế nào là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến?
TTC 2—Này Hiền giả, năm dục trưởng dưỡng này được Thế Tôn gọi là triền phược. Thế nào là năm?
Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn; các tiếng do tai nhận thức… các hương do mũi nhận thức… các vị do lưỡi nhận thức… các xúc do thân nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Này Hiền giả, năm dục trưởng dưỡng này là triền phược, được Thế Tôn nói đến.
TTC 3Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly các dục… chứng và trú sơ Thiền. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là tầm và tứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 4Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ… chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là hỷ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 5Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Cho đến như vậy, này Hiền giả, là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là xả lạc chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 6Lại nữa, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đoạn lạc… chứng và trú Thiền thứ tư. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là sắc tưởng chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 7Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các đối ngại tưởng, không tác ý đến sai biệt tưởng, biết rằng: “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Không vô biên xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 8Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo biết rằng: “Thức là vô biên”, vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Thức vô biên xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 9Lại nữa, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: “Không có vật gì”, chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Vô sở hữu xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 10Lại nữa, này Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cho đến như vậy, thưa Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn. Nhưng ở đây vẫn có triền phược. Và ở đây, triền phược ấy là gì?
Cái ở đây là Phi tưởng phi phi tưởng xứ chưa diệt. Chính cái ấy ở đây là triền phược.
TTC 11Lại nữa, thưa Hiền giả, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn diệt. Cho đến như vậy, này Hiền giả là giải thoát khỏi triền phược được Thế Tôn nói đến với pháp môn.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho āyasmā udāyī yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā ānandena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā udāyī āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“vuttamidaṁ, āvuso, pañcālacaṇḍena devaputtena:
‘Sambādhe gataṁ okāsaṁ,
Avidvā bhūrimedhaso;
Yo jhānamabujjhi buddho,
Paṭilīnanisabho munī’ti.
Katamo, āvuso, sambādho, katamo sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā”ti?
“Pañcime, āvuso, kāmaguṇā sambādho vutto bhagavatā.
Katame pañca?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā,
sotaviññeyyā saddā …pe…
ghānaviññeyyā gandhā …
jivhāviññeyyā rasā …
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Ime kho, āvuso, pañca kāmaguṇā sambādho vutto bhagavatā.
Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha vitakkavicārā aniruddhā honti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha pīti aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha upekkhāsukhaṁ aniruddhaṁ hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha rūpasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha ākāsānañcāyatanasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha viññāṇañcāyatanasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha ākiñcaññāyatanasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā pariyāyena.
Tatrāpatthi sambādho.
Kiñca tattha sambādho?
Yadeva tattha nevasaññānāsaññāyatanasaññā aniruddhā hoti, ayamettha sambādho.
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Ettāvatāpi kho, āvuso, sambādhe okāsādhigamo vutto bhagavatā nippariyāyenā”ti.
Paṭhamaṁ.