TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, tại Sàvatthi, cả hai mẹ và con đều an cư vào mùa mưa, nhân danh Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, họ thường xuyên muốn thấy mặt nhau. Mẹ thường xuyên muốn thấy mặt con, và con cũng thường xuyên muốn thấy mặt mẹ. Vì họ luôn luôn thấy nhau, nên có sự liên hệ. Do có sự liên hệ, nên có sự thân mật. Do có sự thân mật, nên có sự sa ngã. Với tâm sa ngã, buông bỏ sự học tập, làm lộ liễu sự yếu đuối, họ rơi vào thông dâm với nhau.
TTC 2Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, tại Sàvatthi, cả hai mẹ con cùng an cư vào mùa mưa, nhân danh Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, họ thường xuyên muốn thấy mặt nhau, mẹ thường xuyên muốn thấy mặt con và con cũng thường xuyên muốn thấy mặt mẹ. Vì họ thường xuyên thấy nhau, nên có sự liên hệ. Do có sự liên hệ, nên có sự thân mật. Do có sự thân mật, nên có sự sa ngã. Với tâm sa ngã, buông bỏ sự học tập, làm lộ liễu sự yếu đuối, họ rơi vào thông dâm với nhau.
TTC 3—Sao, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si này lại nghĩ rằng: “Mẹ không tham đắm con, hay con không tham đắm mẹ”? Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một sắc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỷ-kheo, sắc đẹp của nữ nhân. Và này các Tỷ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê, sắc đẹp của nữ nhân, chúng sẽ sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực nữ sắc.
Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một tiếng nào khác… một hương nào khác… một vị nào khác… một xúc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỷ-kheo, cảm xúc của nữ nhân. Và này các Tỷ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê cảm xúc nữ nhân, chúng sẽ bị sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực của nữ xúc. Nữ nhân, khi đang đi, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi cười, khi nói, khi hát, khi khóc, khi bất tỉnh, khi chết, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông.
Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói rằng: “Là bẫy mồi toàn diện của Màra”, thời người ấy đã nói một cách chơn chánh về nữ nhân, thật là “một bẫy mồi hoàn toàn của Màra”.
Hãy nói chuyện với người,
Có kiếm ở trong tay,
Nói chuyện với ác quỷ,
Hay ngồi thật gần kề.
Con rắn có nọc độc,
Bị cắn liền mệnh chung,
Nhưng chớ có một mình,
Nói chuyện với nữ nhân.
Thất niệm, họ trói lại,
Với nhìn, với nụ cười,
Với xiêm áo hở hang,
Với lời nói ngọt lịm,
Người ấy vẫn không thỏa,
Bất tỉnh bị mệnh chung.
Năm dục công đức ấy,
Ðược thấy trong nữ sắc
Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Hấp dẫn và đẹp ý.
Bị thác nước dục vọng,
Tràn ngập và cuốn trôi,
Kẻ ngu si vô trí,
Không liễu tri các dục.
Loài người khi mạng chung,
Sanh thú hữu, phi hữu,
Họ phải bị dẫn đầu,
Trong nhiều kiếp luân hồi.
Ai liễu tri các dục,
Sở hành không sợ hãi,
Họ đến bờ bên kia,
Ðạt được lậu hoặc tận.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ ubho mātāputtā vassāvāsaṁ upagamiṁsu—
bhikkhu ca bhikkhunī ca.
Te aññamaññassa abhiṇhaṁ dassanakāmā ahesuṁ.
Mātāpi puttassa abhiṇhaṁ dassanakāmā ahosi;
puttopi mātaraṁ abhiṇhaṁ dassanakāmo ahosi.
Tesaṁ abhiṇhaṁ dassanā saṁsaggo ahosi.
Saṁsagge sati vissāso ahosi.
Vissāse sati otāro ahosi.
Te otiṇṇacittā sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsu.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, sāvatthiyaṁ ubho mātāputtā vassāvāsaṁ upagamiṁsu—
bhikkhu ca bhikkhunī ca, te aññamaññassa abhiṇhaṁ dassanakāmā ahesuṁ, mātāpi puttassa abhiṇhaṁ dassanakāmā ahosi, puttopi mātaraṁ abhiṇhaṁ dassanakāmo ahosi.
Tesaṁ abhiṇhaṁ dassanā saṁsaggo ahosi, saṁsagge sati vissāso ahosi, vissāse sati otāro ahosi, te otiṇṇacittā sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsū”ti.
“Kiṁ nu so, bhikkhave, moghapuriso maññati:
‘na mātā putte sārajjati, putto vā pana mātarī’ti?
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekarūpampi samanupassāmi evaṁ rajanīyaṁ evaṁ kamanīyaṁ evaṁ madanīyaṁ evaṁ bandhanīyaṁ evaṁ mucchanīyaṁ evaṁ antarāyakaraṁ anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya yathayidaṁ, bhikkhave, itthirūpaṁ.
Itthirūpe, bhikkhave, sattā rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā.
Te dīgharattaṁ socanti itthirūpavasānugā.
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekasaddampi … ekagandhampi … ekarasampi … ekaphoṭṭhabbampi samanupassāmi evaṁ rajanīyaṁ evaṁ kamanīyaṁ evaṁ madanīyaṁ evaṁ bandhanīyaṁ evaṁ mucchanīyaṁ evaṁ antarāyakaraṁ anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya yathayidaṁ, bhikkhave, itthiphoṭṭhabbaṁ.
Itthiphoṭṭhabbe, bhikkhave, sattā rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā.
Te dīgharattaṁ socanti itthiphoṭṭhabbavasānugā.
Itthī, bhikkhave, gacchantīpi purisassa cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati;
ṭhitāpi …pe… nisinnāpi … sayānāpi … hasantīpi … bhaṇantīpi … gāyantīpi … rodantīpi … ugghātitāpi … matāpi purisassa cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
‘samantapāso mārassā’ti mātugāmaṁyeva sammā vadamāno vadeyya:
‘samantapāso mārassā’ti.
Sallape asihatthena,
pisācenāpi sallape;
Āsīvisampi āsīde,
yena daṭṭho na jīvati;
Na tveva eko ekāya,
mātugāmena sallape.
Muṭṭhassatiṁ tā bandhanti,
pekkhitena sitena ca;
Athopi dunnivatthena,
mañjunā bhaṇitena ca;
Neso jano svāsīsado,
api ugghātito mato.
Pañca kāmaguṇā ete,
itthirūpasmiṁ dissare;
Rūpā saddā rasā gandhā,
phoṭṭhabbā ca manoramā.
Tesaṁ kāmoghavūḷhānaṁ,
kāme aparijānataṁ;
Kālaṁ gati bhavābhavaṁ,
saṁsārasmiṁ purakkhatā.
Ye ca kāme pariññāya,
caranti akutobhayā;
Te ve pāraṅgatā loke,
ye pattā āsavakkhayan”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park. Now on that occasion a mother and a son, being respectively a bhikkhunī and a bhikkhu, had entered the rains residence at Sāvatthī. They often wanted to see one another, the mother often wanting to see her son, and the son his mother. Because they often saw one another, a bond was formed; because a bond formed, intimacy arose; because there was intimacy, lust found an opening. With their minds in the grip of lust, without having given up the training and declared their weakness, they engaged in sexual intercourse.
SC 2Then a number of bhikkhus approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and reported what had happened. an.iii.68 The Blessed One said:
SC 3“Bhikkhus, did that foolish man think: ‘A mother does not fall in love with her son, or a son with his mother’? (1) Bhikkhus, I do not see even one other form that is as tantalizing, sensuous, intoxicating, captivating, infatuating, and as much of an obstacle to achieving the unsurpassed security from bondage as the form of a woman. Beings who are lustful for the form of a woman—ravenous, tied to it, infatuated, and blindly absorbed in it—sorrow for a long time under the control of a woman’s form. (2) I do not see even one other sound … (3) … even one other odor … (4) … even one other taste … (5) … even one other touch that is as tantalizing, sensuous, intoxicating, captivating, infatuating, and as much of an obstacle to achieving the unsurpassed security from bondage as the touch of a woman. Beings who are lustful for the touch of a woman—ravenous, tied to it, infatuated, and blindly absorbed in it—sorrow for a long time under the control of a woman’s touch.
SC 4“Bhikkhus, while walking, a woman obsesses the mind of a man; while standing … while sitting … while lying down … while laughing … while speaking … while singing … while crying a woman obsesses the mind of a man. When swollen, too, a woman obsesses the mind of a man. Even when dead, a woman obsesses the mind of a man. If, bhikkhus, one could rightly say of anything: ‘Entirely a snare of Māra,’ it is precisely of women that one could say this.” an.iii.69
SC 5One might talk with a murderous foe,
one might talk with an evil spirit,
one might even approach a viper
whose bite means certain death;
but with a woman, one to one,
one should never talk.
SC 6They bind one whose mind is muddled
with a glance and a smile,
with their dress in disarray,
and with gentle speech.
It is not safe to approach such a person
though she is swollen and dead.
SC 7These five objects of sensual pleasure
are seen in a woman’s body:
forms, sounds, tastes, and odors,
and also delightful touches.
SC 8Those swept up by the flood of sensuality,
who do not fully understand sense pleasures,
are plunged headlong into saṁsāra, into time,
destination, and existence upon existence.
SC 9But those who have fully understood sense pleasures
live without fear from any quarter.
Having attained the destruction of the taints,
while in the world, they have gone beyond.
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, tại Sàvatthi, cả hai mẹ và con đều an cư vào mùa mưa, nhân danh Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, họ thường xuyên muốn thấy mặt nhau. Mẹ thường xuyên muốn thấy mặt con, và con cũng thường xuyên muốn thấy mặt mẹ. Vì họ luôn luôn thấy nhau, nên có sự liên hệ. Do có sự liên hệ, nên có sự thân mật. Do có sự thân mật, nên có sự sa ngã. Với tâm sa ngã, buông bỏ sự học tập, làm lộ liễu sự yếu đuối, họ rơi vào thông dâm với nhau.
TTC 2Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, tại Sàvatthi, cả hai mẹ con cùng an cư vào mùa mưa, nhân danh Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni, họ thường xuyên muốn thấy mặt nhau, mẹ thường xuyên muốn thấy mặt con và con cũng thường xuyên muốn thấy mặt mẹ. Vì họ thường xuyên thấy nhau, nên có sự liên hệ. Do có sự liên hệ, nên có sự thân mật. Do có sự thân mật, nên có sự sa ngã. Với tâm sa ngã, buông bỏ sự học tập, làm lộ liễu sự yếu đuối, họ rơi vào thông dâm với nhau.
TTC 3—Sao, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si này lại nghĩ rằng: “Mẹ không tham đắm con, hay con không tham đắm mẹ”? Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một sắc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỷ-kheo, sắc đẹp của nữ nhân. Và này các Tỷ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê, sắc đẹp của nữ nhân, chúng sẽ sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực nữ sắc.
Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một tiếng nào khác… một hương nào khác… một vị nào khác… một xúc nào khác lại khả ái như vậy, đẹp đẽ như vậy, mê ly như vậy, trói buộc như vậy, say sưa như vậy, chướng ngại như vậy cho sự đạt đến an ổn khỏi các khổ ách, tức là, này các Tỷ-kheo, cảm xúc của nữ nhân. Và này các Tỷ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê cảm xúc nữ nhân, chúng sẽ bị sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực của nữ xúc. Nữ nhân, khi đang đi, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi cười, khi nói, khi hát, khi khóc, khi bất tỉnh, khi chết, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông.
Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói rằng: “Là bẫy mồi toàn diện của Màra”, thời người ấy đã nói một cách chơn chánh về nữ nhân, thật là “một bẫy mồi hoàn toàn của Màra”.
Hãy nói chuyện với người,
Có kiếm ở trong tay,
Nói chuyện với ác quỷ,
Hay ngồi thật gần kề.
Con rắn có nọc độc,
Bị cắn liền mệnh chung,
Nhưng chớ có một mình,
Nói chuyện với nữ nhân.
Thất niệm, họ trói lại,
Với nhìn, với nụ cười,
Với xiêm áo hở hang,
Với lời nói ngọt lịm,
Người ấy vẫn không thỏa,
Bất tỉnh bị mệnh chung.
Năm dục công đức ấy,
Ðược thấy trong nữ sắc
Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
Hấp dẫn và đẹp ý.
Bị thác nước dục vọng,
Tràn ngập và cuốn trôi,
Kẻ ngu si vô trí,
Không liễu tri các dục.
Loài người khi mạng chung,
Sanh thú hữu, phi hữu,
Họ phải bị dẫn đầu,
Trong nhiều kiếp luân hồi.
Ai liễu tri các dục,
Sở hành không sợ hãi,
Họ đến bờ bên kia,
Ðạt được lậu hoặc tận.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena sāvatthiyaṁ ubho mātāputtā vassāvāsaṁ upagamiṁsu—
bhikkhu ca bhikkhunī ca.
Te aññamaññassa abhiṇhaṁ dassanakāmā ahesuṁ.
Mātāpi puttassa abhiṇhaṁ dassanakāmā ahosi;
puttopi mātaraṁ abhiṇhaṁ dassanakāmo ahosi.
Tesaṁ abhiṇhaṁ dassanā saṁsaggo ahosi.
Saṁsagge sati vissāso ahosi.
Vissāse sati otāro ahosi.
Te otiṇṇacittā sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsu.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“idha, bhante, sāvatthiyaṁ ubho mātāputtā vassāvāsaṁ upagamiṁsu—
bhikkhu ca bhikkhunī ca, te aññamaññassa abhiṇhaṁ dassanakāmā ahesuṁ, mātāpi puttassa abhiṇhaṁ dassanakāmā ahosi, puttopi mātaraṁ abhiṇhaṁ dassanakāmo ahosi.
Tesaṁ abhiṇhaṁ dassanā saṁsaggo ahosi, saṁsagge sati vissāso ahosi, vissāse sati otāro ahosi, te otiṇṇacittā sikkhaṁ apaccakkhāya dubbalyaṁ anāvikatvā methunaṁ dhammaṁ paṭiseviṁsū”ti.
“Kiṁ nu so, bhikkhave, moghapuriso maññati:
‘na mātā putte sārajjati, putto vā pana mātarī’ti?
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekarūpampi samanupassāmi evaṁ rajanīyaṁ evaṁ kamanīyaṁ evaṁ madanīyaṁ evaṁ bandhanīyaṁ evaṁ mucchanīyaṁ evaṁ antarāyakaraṁ anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya yathayidaṁ, bhikkhave, itthirūpaṁ.
Itthirūpe, bhikkhave, sattā rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā.
Te dīgharattaṁ socanti itthirūpavasānugā.
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekasaddampi … ekagandhampi … ekarasampi … ekaphoṭṭhabbampi samanupassāmi evaṁ rajanīyaṁ evaṁ kamanīyaṁ evaṁ madanīyaṁ evaṁ bandhanīyaṁ evaṁ mucchanīyaṁ evaṁ antarāyakaraṁ anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya yathayidaṁ, bhikkhave, itthiphoṭṭhabbaṁ.
Itthiphoṭṭhabbe, bhikkhave, sattā rattā giddhā gathitā mucchitā ajjhosannā.
Te dīgharattaṁ socanti itthiphoṭṭhabbavasānugā.
Itthī, bhikkhave, gacchantīpi purisassa cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati;
ṭhitāpi …pe… nisinnāpi … sayānāpi … hasantīpi … bhaṇantīpi … gāyantīpi … rodantīpi … ugghātitāpi … matāpi purisassa cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati.
Yañhi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
‘samantapāso mārassā’ti mātugāmaṁyeva sammā vadamāno vadeyya:
‘samantapāso mārassā’ti.
Sallape asihatthena,
pisācenāpi sallape;
Āsīvisampi āsīde,
yena daṭṭho na jīvati;
Na tveva eko ekāya,
mātugāmena sallape.
Muṭṭhassatiṁ tā bandhanti,
pekkhitena sitena ca;
Athopi dunnivatthena,
mañjunā bhaṇitena ca;
Neso jano svāsīsado,
api ugghātito mato.
Pañca kāmaguṇā ete,
itthirūpasmiṁ dissare;
Rūpā saddā rasā gandhā,
phoṭṭhabbā ca manoramā.
Tesaṁ kāmoghavūḷhānaṁ,
kāme aparijānataṁ;
Kālaṁ gati bhavābhavaṁ,
saṁsārasmiṁ purakkhatā.
Ye ca kāme pariññāya,
caranti akutobhayā;
Te ve pāraṅgatā loke,
ye pattā āsavakkhayan”ti.
Pañcamaṁ.