TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi tướng quân Sìha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tướng quân Sìha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể nêu rõ kết quả hiện tại của sự bố thí?
TTC 2—Này Sìha, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy. Ông nghĩ thế nào, này Sìha, ở đây có hai người: một người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu; một người có lòng tin là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với ai trước, với người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu hay với người có lòng tin, là người chí thủ, không có chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu, làm sao các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với hạng người này trước được? Và bạch Thế Tôn, người nào có lòng tin, là người thí chủ, không có chấp thủ, các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với hạng người này trước.
TTC 3—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán đi đến thăm, có thể đến thăm ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu, hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu, làm sao các vị A-la-hán đi đến thăm, có thể đến thăm trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, không có chấp thủ, các vị A-la-hán đi đến thăm sẽ đi đến hạng người này trước.
TTC 4—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán thọ lãnh đồ ăn khất thực, có thể thọ lãnh của ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao các vị A-la-hán thọ lãnh, có thể thọ lãnh của hạng người ấy trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, các vị A-la-hán có thể thọ lãnh của hạng người này trước.
TTC 5—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán thuyết pháp cho ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao các vị A-la-hán thuyết pháp sẽ thuyết pháp cho hạng người ấy trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, các vị A-la-hán thuyết pháp có thể thuyết pháp cho hạng người này trước.
TTC 6—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, danh tiếng tốt đẹp của ai được truyền rộng ra, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao danh tiếng tốt đẹp của hạng người ấy được truyền rộng ra? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, danh tiếng tốt đẹp của hạng người này có thể được truyền rộng ra.
TTC 7—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, ai đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao hạng người ấy đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè được? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, hạng người ấy đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè.
TTC 8—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, sau khi thân hoại mạng chung, ai có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao hạng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, hạng người này, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
TTC 9Bạch Thế Tôn, sáu kết quả hiện tại của bố thí này được Thế Tôn tuyên bố không phải vì họ, con đi đến lòng tin đối với Thế Tôn. Con biết họ. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, có lòng từ mẫn với con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có đi đến thăm, đi đến thăm con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có nhận lãnh đồ ăn khất thực, nhận lãnh của con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có thuyết pháp, thuyết pháp cho con trước. . Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ, tiếng đồn tốt đẹp về con được truyền rộng ra: “Tướng quân Sìha là người bố thí, là người hành động, là người ủng hộ chúng Tăng”. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ; con đi đến hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè. Bạch Thế Tôn, sáu kết quả hiện tại của bố thí này được Thế Tôn tuyên bố, không phải vì họ, con đi đến lòng tin đối với Thế Tôn. Con biết họ. Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói về con như sau: “Sìha là người bố thí, là thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này”. Con không biết vấn đề này, ở đây, con đi đến lòng tin nơi Thế Tôn.
—Như vậy là phải, này Sìha! Như vậy là phải, này Sìha! Sìha là người bố thí, là người thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho sīho senāpati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sīho senāpati bhagavantaṁ etadavoca:
“sakkā nu kho, bhante, sandiṭṭhikaṁ dānaphalaṁ paññāpetun”ti?
“Tena hi, sīha, taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, sīha,
idha dve purisā—
eko puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, eko puriso saddho dānapati anuppadānarato.
Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kaṁ nu kho arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampeyyuṁ:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampissanti.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato taṁyeva arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampeyyuṁ”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kaṁ nu kho arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkameyyuṁ:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamissanti.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato taṁyeva arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkameyyuṁ”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇheyyuṁ:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhissanti.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇheyyuṁ”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā deseyyuṁ:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desessanti.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā deseyyuṁ”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho kalyāṇo kittisaddo abbhuggaccheyya:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva kalyāṇo kittisaddo abbhuggaccheyya”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, ko nu kho yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkameyya, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkameyya amaṅkubhūto:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kiṁ so yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkamissati, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamissati amaṅkubhūto.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato so yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkameyya, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkameyya amaṅkubhūto”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, ko nu kho kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kiṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya.
Yānimāni, bhante, bhagavatā sandiṭṭhikāni dānaphalāni akkhātāni, nāhaṁ ettha bhagavato saddhāya gacchāmi.
Ahampi etāni jānāmi.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, maṁ arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampanti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, maṁ arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamanti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhanti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desenti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘sīho senāpati dāyako kārako saṅghupaṭṭhāko’ti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkamāmi, yadi khattiyaparisaṁ …pe… yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamāmi amaṅkubhūto.
Yānimāni, bhante, bhagavatā sandiṭṭhikāni dānaphalāni akkhātāni, nāhaṁ ettha bhagavato saddhāya gacchāmi.
Ahampi etāni jānāmi.
Yañca kho maṁ, bhante, bhagavā evamāha:
‘dāyako, sīha, dānapati kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatī’ti.
Etāhaṁ na jānāmi, ettha ca panāhaṁ, bhagavato saddhāya gacchāmī”ti.
“Evametaṁ, sīha, evametaṁ, sīha.
Dāyako, sīha, dānapati kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatī”ti.
Catutthaṁ.
Thus have I heard.
Once, while the Exalted One dwelt near Vesālī, at the Gabled Hall in Mahavana, general Sīha visited him, saluted and sat down at one side.
So seated, he said to the Exalted One:
‘Is it possible, lord, to show the visible result of giving?’
‘Well, Sīha, just on that I will question you in return; explain the matter as it seems good to you.
Now what think you, Sīha?
There might be two men: one unbelieving, mean, miserly, cross-grained; the other a believer, a master-giver, delighting in constant giving.
What think you, Sīha, on whom would compassionate arahants first have compassion; the unbelieving, mean, miserly, cross-grained man or the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving?
‘The unbeliever, mean, miserly, cross-grained man, lord, why should they first have compassion on him?
But the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving, on him surely they would first have compassion.’
‘Then what think you, Sīha?
Which of the twain would visiting arahants first visit; the unbelieving, mean, miserly, cross-grained man or the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving?
‘The unbeliever, mean, miserly, cross-grained man, lord, why should visiting arahants first visit him?
But the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving, surely visiting arahants would first visit him.’
‘Then what think you, Sīha?
From whom would receiving arahants first receive alms; the unbelieving, mean, miserly, cross-grained man or the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving?
‘The unbeliever, mean, miserly, cross-grained man, lord, why should receiving arahants first receive alms from him?
But the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving, surely receiving arahants would first receive alms from him.’
‘Then what think you, Sīha?
To whom would teaching arahants first teach Dhamma; the unbelieving, mean, miserly, cross-grained man or the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving?
‘The unbeliever, mean, miserly, cross-grained man, lord, why should teaching arahants first teach Dhamma to him?
But the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving, surely teaching arahants would first teach Dhamma to him.’
‘Then what think you, Sīha?
Of whom would a fair report be noised abroad; the unbelieving, mean, miserly, cross-grained man or the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving?
‘The unbeliever, mean, miserly, cross-grained man, lord, why would a fair report be noised abroad about him?
But the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving, surely a fair report would be noised abroad about him.’
‘Then what think you, Sīha?
Who would approach any gathering—nobles, brahmans, householders, recluses—with confidence, untroubled; the unbelieving, mean, miserly, cross-grained man or the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving?
‘The unbeliever, mean, miserly, cross-grained man, lord, how would would he approach any gathering—nobles, brahmans, householders, recluses—with confidence, untroubled?
But the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving, surely he would approach any gathering—nobles, brahmans, householders, recluses—with confidence, untroubled.’
‘And what think you, Sīha, who, on the breaking up of the body after death, would arise in the happy heaven world: the unbelieving, mean, miserly, cross-grained man or the believer, the master-giver who delights in constant almsgiving?
‘The unbeliever, mean, miserly, cross-grained man, lord, why shall he, on the breaking up of the body after death, arise in the happy heaven world?
But the believer, the master-giver who delights in constant alms-giving, surely he after death may arise in the happy heaven world.
Lord, these six visible results of giving, declared by the Exalted One—I go not to the Exalted One for faith for that; I just know them.
I, lord, am a giver, a master-giver, and on me compassionate arahants first have compassion.
I, lord, am a giver, a master-giver, and on me they first visit.
I, lord, am a giver, a master-giver, and from me they first receive.
I, lord, am a giver, a master-giver, and to me they first teach Dhamma.
I, lord, am a giver, a master-giver, and of me a fair report is noised abroad:
"General Sīha is a giver, a worker, the Order's servant," it is said.
I, lord, am a giver, a master-giver, and any gathering I approach—nobles, brahmans, householders, recluses—I approach with confidence, untroubled.
Lord, these six visible results of giving, declared by the Exalted One—I go not to the Exalted One for faith for that; I just know them.
But when the Exalted One said:
“The giver, Sīha, the master-giver, on the breaking up of the body after death, arises in the happy heaven world”—that I know not; and there I go to the Exalted One for faith.’
‘Thus it is, Sīha, thus it is; the giver, Sīha, the master-giver, on the breaking up of the body after death, arises in the happy heaven world.’
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, tại Ðại Lâm, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi tướng quân Sìha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tướng quân Sìha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể nêu rõ kết quả hiện tại của sự bố thí?
TTC 2—Này Sìha, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Ông kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời như vậy. Ông nghĩ thế nào, này Sìha, ở đây có hai người: một người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu; một người có lòng tin là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với ai trước, với người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu hay với người có lòng tin, là người chí thủ, không có chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiệt, ác khẩu, làm sao các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với hạng người này trước được? Và bạch Thế Tôn, người nào có lòng tin, là người thí chủ, không có chấp thủ, các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, sẽ có lòng từ mẫn với hạng người này trước.
TTC 3—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán đi đến thăm, có thể đến thăm ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu, hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu, làm sao các vị A-la-hán đi đến thăm, có thể đến thăm trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, không có chấp thủ, các vị A-la-hán đi đến thăm sẽ đi đến hạng người này trước.
TTC 4—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán thọ lãnh đồ ăn khất thực, có thể thọ lãnh của ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao các vị A-la-hán thọ lãnh, có thể thọ lãnh của hạng người ấy trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, các vị A-la-hán có thể thọ lãnh của hạng người này trước.
TTC 5—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, các vị A-la-hán thuyết pháp cho ai trước, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao các vị A-la-hán thuyết pháp sẽ thuyết pháp cho hạng người ấy trước được? Và bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, các vị A-la-hán thuyết pháp có thể thuyết pháp cho hạng người này trước.
TTC 6—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, danh tiếng tốt đẹp của ai được truyền rộng ra, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao danh tiếng tốt đẹp của hạng người ấy được truyền rộng ra? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, danh tiếng tốt đẹp của hạng người này có thể được truyền rộng ra.
TTC 7—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, ai đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao hạng người ấy đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè được? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, hạng người ấy đi đến bất cứ hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè.
TTC 8—Ông nghĩ thế nào, này Sìha, sau khi thân hoại mạng chung, ai có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu hay hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ?
—Bạch Thế Tôn, hạng người không có lòng tin, xan tham, keo kiết, ác khẩu làm sao hạng người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này? Bạch Thế Tôn, hạng người có lòng tin, là người thí chủ, ưa thích không chấp thủ, hạng người này, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
TTC 9Bạch Thế Tôn, sáu kết quả hiện tại của bố thí này được Thế Tôn tuyên bố không phải vì họ, con đi đến lòng tin đối với Thế Tôn. Con biết họ. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có lòng từ mẫn, có lòng từ mẫn với con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có đi đến thăm, đi đến thăm con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có nhận lãnh đồ ăn khất thực, nhận lãnh của con trước. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ. Các vị A-la-hán có thuyết pháp, thuyết pháp cho con trước. . Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ, tiếng đồn tốt đẹp về con được truyền rộng ra: “Tướng quân Sìha là người bố thí, là người hành động, là người ủng hộ chúng Tăng”. Bạch Thế Tôn, con là người bố thí, là người thí chủ; con đi đến hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, đi đến không sợ hãi, không rụt rè. Bạch Thế Tôn, sáu kết quả hiện tại của bố thí này được Thế Tôn tuyên bố, không phải vì họ, con đi đến lòng tin đối với Thế Tôn. Con biết họ. Nhưng bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói về con như sau: “Sìha là người bố thí, là thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này”. Con không biết vấn đề này, ở đây, con đi đến lòng tin nơi Thế Tôn.
—Như vậy là phải, này Sìha! Như vậy là phải, này Sìha! Sìha là người bố thí, là người thí chủ, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho sīho senāpati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho sīho senāpati bhagavantaṁ etadavoca:
“sakkā nu kho, bhante, sandiṭṭhikaṁ dānaphalaṁ paññāpetun”ti?
“Tena hi, sīha, taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
Taṁ kiṁ maññasi, sīha,
idha dve purisā—
eko puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, eko puriso saddho dānapati anuppadānarato.
Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kaṁ nu kho arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampeyyuṁ:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampissanti.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato taṁyeva arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampeyyuṁ”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kaṁ nu kho arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkameyyuṁ:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamissanti.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato taṁyeva arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkameyyuṁ”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇheyyuṁ:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhissanti.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇheyyuṁ”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā deseyyuṁ:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desessanti.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā deseyyuṁ”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, kassa nu kho kalyāṇo kittisaddo abbhuggaccheyya:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kintaṁ tassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchissati.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato tasseva kalyāṇo kittisaddo abbhuggaccheyya”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, ko nu kho yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkameyya, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkameyya amaṅkubhūto:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kiṁ so yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkamissati, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamissati amaṅkubhūto.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato so yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkameyya, yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkameyya amaṅkubhūto”.
“Taṁ kiṁ maññasi, sīha, ko nu kho kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya:
‘yo vā so puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, yo vā so puriso saddho dānapati anuppadānarato’”ti?
“Yo so, bhante, puriso assaddho maccharī kadariyo paribhāsako, kiṁ so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissati.
Yo ca kho so, bhante, puriso saddho dānapati anuppadānarato so kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyya.
Yānimāni, bhante, bhagavatā sandiṭṭhikāni dānaphalāni akkhātāni, nāhaṁ ettha bhagavato saddhāya gacchāmi.
Ahampi etāni jānāmi.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, maṁ arahanto paṭhamaṁ anukampantā anukampanti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, maṁ arahanto paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamanti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ arahanto paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhanti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ arahanto paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desenti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati, mayhaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘sīho senāpati dāyako kārako saṅghupaṭṭhāko’ti.
Ahaṁ, bhante, dāyako dānapati yaṁyadeva parisaṁ upasaṅkamāmi, yadi khattiyaparisaṁ …pe… yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamāmi amaṅkubhūto.
Yānimāni, bhante, bhagavatā sandiṭṭhikāni dānaphalāni akkhātāni, nāhaṁ ettha bhagavato saddhāya gacchāmi.
Ahampi etāni jānāmi.
Yañca kho maṁ, bhante, bhagavā evamāha:
‘dāyako, sīha, dānapati kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatī’ti.
Etāhaṁ na jānāmi, ettha ca panāhaṁ, bhagavato saddhāya gacchāmī”ti.
“Evametaṁ, sīha, evametaṁ, sīha.
Dāyako, sīha, dānapati kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjatī”ti.
Catutthaṁ.