TTC 1Bấy giờ có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia?
TTC 2Tà kiến, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia. Tà tư duy là bờ bên này, chánh tư duy là bờ bên kia. Tà ngữ… chánh ngữ… Tà nghiệp… chánh nghiệp… Tà mạng… chánh mạng… Tà tinh tấn… chánh tinh tấn… Tà niệm… chánh niệm… Tà định… chánh định… Tà trí… chánh trí… Tà giải thoát, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh giải thoát là bờ bên kia.
Này Bà-la-môn, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia:
Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc.
Hãy cầu vui Niết-bàn,
Bỏ dục, không chướng ngại,
Kẻ trí tự rửa sạch,
Cấu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc, sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.
Atha kho saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho gotama, orimaṁ tīraṁ, kiṁ pārimaṁ tīran”ti?
“Micchādiṭṭhi kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, sammādiṭṭhi pārimaṁ tīraṁ;
micchāsaṅkappo orimaṁ tīraṁ, sammāsaṅkappo pārimaṁ tīraṁ;
micchāvācā orimaṁ tīraṁ, sammāvācā pārimaṁ tīraṁ;
micchākammanto orimaṁ tīraṁ, sammākammanto pārimaṁ tīraṁ;
micchāājīvo orimaṁ tīraṁ, sammāājīvo pārimaṁ tīraṁ;
micchāvāyāmo orimaṁ tīraṁ, sammāvāyāmo pārimaṁ tīraṁ;
micchāsati orimaṁ tīraṁ, sammāsati pārimaṁ tīraṁ;
micchāsamādhi orimaṁ tīraṁ, sammāsamādhi pārimaṁ tīraṁ;
micchāñāṇaṁ orimaṁ tīraṁ, sammāñāṇaṁ pārimaṁ tīraṁ;
micchāvimutti orimaṁ tīraṁ, sammāvimutti pārimaṁ tīranti.
Idaṁ kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, idaṁ pārimaṁ tīranti.
Appakā te manussesu,
ye janā pāragāmino;
Athāyaṁ itarā pajā,
tīramevānudhāvati.
Ye ca kho sammadakkhāte,
dhamme dhammānuvattino;
Te janā pāramessanti,
maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya,
Sukkaṁ bhāvetha paṇḍito;
Okā anokamāgamma,
Viveke yattha dūramaṁ.
Tatrābhiratimiccheyya,
hitvā kāme akiñcano;
Pariyodapeyya attānaṁ,
cittaklesehi paṇḍito.
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu,
sammā cittaṁ subhāvitaṁ;
Ādānapaṭinissagge,
anupādāya ye ratā;
Khīṇāsavā jutimanto,
te loke parinibbutā”ti.
Pañcamaṁ.
Then Saṅgārava the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, what is the near shore? And what is the far shore?”
“Wrong view is the near shore, brahmin, and right view is the far shore.
Wrong purpose is the near shore, and right purpose is the far shore.
Wrong speech is the near shore, and right speech is the far shore.
Wrong action is the near shore, and right action is the far shore.
Wrong livelihood is the near shore, and right livelihood is the far shore.
Wrong effort is the near shore, and right effort is the far shore.
Wrong mindfulness is the near shore, and right mindfulness is the far shore.
Wrong immersion is the near shore, and right immersion is the far shore.
Wrong knowledge is the near shore, and right knowledge is the far shore.
Wrong freedom is the near shore, and right freedom is the far shore.
This is the near shore, and this is the far shore.
Few are those among humans
who cross to the far shore.
The rest just run around
on the near shore.
When the teaching is well explained,
those who practice accordingly
are the ones who will cross over
Death’s dominion so hard to pass.
Rid of dark qualities,
an astute person should develop the bright.
Leaving home behind
for the seclusion so hard to enjoy,
try to find satisfaction there,
having left behind sensual pleasures.
Owning nothing, an astute person
would cleanse themselves of mental corruptions.
Those whose minds are rightly developed
in the awakening factors;
who, letting go of attachments,
delight in not grasping:
with defilements ended, brilliant,
they are quenched in this world.”
TTC 1Bấy giờ có Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava bạch Thế Tôn:
—Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia?
TTC 2Tà kiến, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh kiến là bờ bên kia. Tà tư duy là bờ bên này, chánh tư duy là bờ bên kia. Tà ngữ… chánh ngữ… Tà nghiệp… chánh nghiệp… Tà mạng… chánh mạng… Tà tinh tấn… chánh tinh tấn… Tà niệm… chánh niệm… Tà định… chánh định… Tà trí… chánh trí… Tà giải thoát, này Bà-la-môn, là bờ bên này, chánh giải thoát là bờ bên kia.
Này Bà-la-môn, đây là bờ bên này, đây là bờ bên kia:
Ít người giữa nhân loại,
Ðến được bờ bên kia,
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.
Những ai hành trì pháp,
Theo Chánh pháp khéo dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma giới khó thoát.
Kẻ trí bỏ pháp đen,
Tu tập theo pháp trắng,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Sống viễn ly khổ lạc.
Hãy cầu vui Niết-bàn,
Bỏ dục, không chướng ngại,
Kẻ trí tự rửa sạch,
Cấu uế từ nội tâm.
Những ai với chánh tâm,
Khéo tu tập giác chi,
Từ bỏ mọi ái nhiễm
Hoan hỷ không chấp thủ,
Không lậu hoặc, sáng chói,
Sống tịch tịnh ở đời.
Atha kho saṅgāravo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho saṅgāravo brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, bho gotama, orimaṁ tīraṁ, kiṁ pārimaṁ tīran”ti?
“Micchādiṭṭhi kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, sammādiṭṭhi pārimaṁ tīraṁ;
micchāsaṅkappo orimaṁ tīraṁ, sammāsaṅkappo pārimaṁ tīraṁ;
micchāvācā orimaṁ tīraṁ, sammāvācā pārimaṁ tīraṁ;
micchākammanto orimaṁ tīraṁ, sammākammanto pārimaṁ tīraṁ;
micchāājīvo orimaṁ tīraṁ, sammāājīvo pārimaṁ tīraṁ;
micchāvāyāmo orimaṁ tīraṁ, sammāvāyāmo pārimaṁ tīraṁ;
micchāsati orimaṁ tīraṁ, sammāsati pārimaṁ tīraṁ;
micchāsamādhi orimaṁ tīraṁ, sammāsamādhi pārimaṁ tīraṁ;
micchāñāṇaṁ orimaṁ tīraṁ, sammāñāṇaṁ pārimaṁ tīraṁ;
micchāvimutti orimaṁ tīraṁ, sammāvimutti pārimaṁ tīranti.
Idaṁ kho, brāhmaṇa, orimaṁ tīraṁ, idaṁ pārimaṁ tīranti.
Appakā te manussesu,
ye janā pāragāmino;
Athāyaṁ itarā pajā,
tīramevānudhāvati.
Ye ca kho sammadakkhāte,
dhamme dhammānuvattino;
Te janā pāramessanti,
maccudheyyaṁ suduttaraṁ.
Kaṇhaṁ dhammaṁ vippahāya,
Sukkaṁ bhāvetha paṇḍito;
Okā anokamāgamma,
Viveke yattha dūramaṁ.
Tatrābhiratimiccheyya,
hitvā kāme akiñcano;
Pariyodapeyya attānaṁ,
cittaklesehi paṇḍito.
Yesaṁ sambodhiyaṅgesu,
sammā cittaṁ subhāvitaṁ;
Ādānapaṭinissagge,
anupādāya ye ratā;
Khīṇāsavā jutimanto,
te loke parinibbutā”ti.
Pañcamaṁ.