TTC 1—Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích nghĩ rằng: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?” Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục thứ nhất, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?” Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ hai, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?” Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ ba, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương, bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?” Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục thứ tư, có mặt, hiện hữu ở đời.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loài ngựa hiền thiện, thuần thục, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 5Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện, thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung; người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được tối thắng sự thật; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện, thuần thục ấy, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, bị dao động kích thích, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ nhất có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay bị mệnh chung, nhưng khi tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào da, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ hai có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung. Nhưng, khi có một người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung. Nhưng khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không phải khả hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, bhadrā assājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco bhadro assājānīyo patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati:
‘kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī’ti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo bhadro assājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo na heva kho patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati, api ca kho lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati:
‘kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī’ti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo bhadro assājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo na heva kho patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati nāpi lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati, api ca kho cammavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati:
‘kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī’ti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo bhadro assājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo na heva kho patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati nāpi lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati nāpi cammavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati, api ca kho aṭṭhivedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati:
‘kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī’ti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho bhadro assājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ime kho, bhikkhave, cattāro bhadrā assājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, cattārome bhadrā purisājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco bhadro purisājānīyo suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā’ti.
So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati.
Saṁviggo yoniso padahati.
Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ bhadraṁ purisājānīyaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo bhadro purisājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo na heva kho suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā’ti, api ca kho sāmaṁ passati itthiṁ vā purisaṁ vā dukkhitaṁ vā kālaṅkataṁ vā.
So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati.
Saṁviggo yoniso padahati.
Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ bhadraṁ purisājānīyaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo bhadro purisājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo na heva kho suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā’ti, nāpi sāmaṁ passati itthiṁ vā purisaṁ vā dukkhitaṁ vā kālaṅkataṁ vā, api ca khvassa ñāti vā sālohito vā dukkhito vā hoti kālaṅkato vā.
So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati.
Saṁviggo yoniso padahati.
Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo cammavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ bhadraṁ purisājānīyaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo bhadro purisājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo na heva kho suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā’ti, nāpi sāmaṁ passati itthiṁ vā purisaṁ vā dukkhitaṁ vā kālaṅkataṁ vā, nāpissa ñāti vā sālohito vā dukkhito vā hoti kālaṅkato vā, api ca kho sāmaññeva phuṭṭho hoti sārīrikāhi vedanāhi dukkhāhi tibbāhi kharāhi kaṭukāhi asātāhi amanāpāhi pāṇaharāhi.
So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati.
Saṁviggo yoniso padahati.
Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo aṭṭhivedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ bhadraṁ purisājānīyaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho bhadro purisājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ime kho, bhikkhave, cattāro bhadrā purisājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Tatiyaṁ.
“There are these four types of excellent thoroughbred horses to be found existing in the world. Which four? There is the case where an excellent thoroughbred horse, on seeing the shadow of the goad-stick, is stirred & agitated, [thinking,] ‘I wonder what task the trainer will have me do today? What should I do in response?’ Some excellent thoroughbred horses are like this. And this is the first type of excellent thoroughbred horse to be found existing in the world.
“Then again there is the case where an excellent thoroughbred horse is not stirred & agitated on seeing the shadow of the goad-stick, but when his coat is pricked [with the goad stick] he is stirred & agitated, [thinking,] ‘I wonder what task the trainer will have me do today? What should I do in response?’ Some excellent thoroughbred horses are like this. And this is the second type of excellent thoroughbred horse to be found existing in the world.
“Then again there is the case where an excellent thoroughbred horse is not stirred & agitated on seeing the shadow of the goad-stick, or when his coat is pricked, but when his hide is pricked [with the goad stick] he is stirred & agitated, [thinking,] ‘I wonder what task the trainer will have me do today? What should I do in response?’ Some excellent thoroughbred horses are like this. And this is the third type of excellent thoroughbred horse to be found existing in the world.
“Then again there is the case where an excellent thoroughbred horse is not stirred & agitated on seeing the shadow of the goad-stick, or when his coat is pricked, or when his hide is pricked, but when his bone is pricked [with the goad stick] he is stirred & agitated, [thinking,] ‘I wonder what task the trainer will have me do today? What should I do in response?’ Some excellent thoroughbred horses are like this. And this is the fourth type of excellent thoroughbred horse to be found existing in the world.
“These are the four types of excellent thoroughbred horse to be found existing in the world.
“Now, there are these four types of excellent thoroughbred persons to be found existing in the world. Which four?
“There is the case where a certain excellent thoroughbred person hears, ‘In that town or village over there a man or woman is in pain or has died.’ He is stirred & agitated by that. Stirred, he becomes appropriately resolute. Resolute, he both realizes with his body the highest truth and, having penetrated it with discernment, sees. This type of excellent thoroughbred person, I tell you, is like the excellent thoroughbred horse who, on seeing the shadow of the goad-stick, is stirred & agitated. Some excellent thoroughbred people are like this. And this is the first type of excellent thoroughbred person to be found existing in the world.
“Then again there is the case where a certain excellent thoroughbred person does not hear, ‘In that town or village over there a man or woman is in pain or has died.’ But he himself sees a man or woman in pain or dead. He is stirred & agitated by that. Stirred, he becomes appropriately resolute. Resolute, he both realizes with his body the highest truth and, having penetrated it with discernment, sees. This type of excellent thoroughbred person, I tell you, is like the excellent thoroughbred horse who, when its coat is pricked with the goad-stick, is stirred & agitated. Some excellent thoroughbred people are like this. And this is the second type of excellent thoroughbred person to be found existing in the world.
“Then again there is the case where a certain excellent thoroughbred person does not hear, ‘In that town or village over there a man or woman is in pain or has died.’ And he himself does not see a man or woman in pain or dead. But he sees one of his own blood relatives in pain or dead. He is stirred & agitated by that. Stirred, he becomes appropriately resolute. Resolute, he both realizes with his body the highest truth and, having penetrated it with discernment, sees. This type of excellent thoroughbred person, I tell you, is like the excellent thoroughbred horse who, when its hide is pricked with the goad-stick, is stirred & agitated. Some excellent thoroughbred people are like this. And this is the third type of excellent thoroughbred person to be found existing in the world.
“Then again there is the case where a certain excellent thoroughbred person does not hear, ‘In that town or village over there a man or woman is in pain or has died.’ And he himself does not see a man or woman in pain or dead, nor does he see one of his own blood relatives in pain or dead. But he himself is touched by bodily feelings that are painful, fierce, sharp, wracking, repellent, disagreeable, life-threatening. He is stirred & agitated by that. Stirred, he becomes appropriately resolute. Resolute, he both realizes with his body the highest truth and, having penetrated it with discernment, sees. This type of excellent thoroughbred person, I tell you, is like the excellent thoroughbred horse who, when its bone is pricked with the goad-stick, is stirred & agitated. Some excellent thoroughbred people are like this. And this is the fourth type of excellent thoroughbred person to be found existing in the world.
“These are the four types of excellent thoroughbred persons to be found existing in the world.”
TTC 1—Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích nghĩ rằng: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?” Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục thứ nhất, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 2Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?” Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ hai, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?” Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ ba, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương, bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: “Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?” Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục thứ tư, có mặt, hiện hữu ở đời.
Này các Tỷ-kheo, có bốn loài ngựa hiền thiện, thuần thục, có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 5Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện, thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hiền thiện, thuần thục nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung; người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được tối thắng sự thật; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện, thuần thục ấy, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, bị dao động kích thích, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ nhất có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay bị mệnh chung, nhưng khi tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào da, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ hai có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện, thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay mệnh chung. Nhưng, khi có một người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung, người ấy do vậy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ ba có mặt, hiện hữu ở đời.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện thuần thục không có nghe tại một làng hay thị trấn kia, có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay mệnh chung, không có tự mình thấy người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung. Nhưng khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không phải khả hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy bị dao động, kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân, vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng; với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập, thấy được sự thật ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới bị dao động, kích thích, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, con người hiền thiện thuần thục này giống như ví dụ ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người hiền thiện thuần thục. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người hiền thiện thuần thục thứ tư có mặt, hiện hữu ở đời.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người hiền thiện thuần thục này có mặt, hiện hữu ở đời.
“Cattārome, bhikkhave, bhadrā assājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco bhadro assājānīyo patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati:
‘kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī’ti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo bhadro assājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo na heva kho patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati, api ca kho lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati:
‘kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī’ti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo bhadro assājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo na heva kho patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati nāpi lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati, api ca kho cammavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati:
‘kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī’ti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo bhadro assājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo na heva kho patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati nāpi lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati nāpi cammavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati, api ca kho aṭṭhivedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati:
‘kiṁ nu kho maṁ ajja assadammasārathi kāraṇaṁ kāressati, kimassāhaṁ paṭikaromī’ti.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro assājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho bhadro assājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ime kho, bhikkhave, cattāro bhadrā assājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, cattārome bhadrā purisājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, ekacco bhadro purisājānīyo suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā’ti.
So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati.
Saṁviggo yoniso padahati.
Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo patodacchāyaṁ disvā saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ bhadraṁ purisājānīyaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo bhadro purisājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo na heva kho suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā’ti, api ca kho sāmaṁ passati itthiṁ vā purisaṁ vā dukkhitaṁ vā kālaṅkataṁ vā.
So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati.
Saṁviggo yoniso padahati.
Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo lomavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ bhadraṁ purisājānīyaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo bhadro purisājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo na heva kho suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā’ti, nāpi sāmaṁ passati itthiṁ vā purisaṁ vā dukkhitaṁ vā kālaṅkataṁ vā, api ca khvassa ñāti vā sālohito vā dukkhito vā hoti kālaṅkato vā.
So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati.
Saṁviggo yoniso padahati.
Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo cammavedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ bhadraṁ purisājānīyaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo bhadro purisājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo na heva kho suṇāti:
‘amukasmiṁ nāma gāme vā nigame vā itthī vā puriso vā dukkhito vā kālaṅkato vā’ti, nāpi sāmaṁ passati itthiṁ vā purisaṁ vā dukkhitaṁ vā kālaṅkataṁ vā, nāpissa ñāti vā sālohito vā dukkhito vā hoti kālaṅkato vā, api ca kho sāmaññeva phuṭṭho hoti sārīrikāhi vedanāhi dukkhāhi tibbāhi kharāhi kaṭukāhi asātāhi amanāpāhi pāṇaharāhi.
So tena saṁvijjati, saṁvegaṁ āpajjati.
Saṁviggo yoniso padahati.
Pahitatto kāyena ceva paramasaccaṁ sacchikaroti, paññāya ca ativijjha passati.
Seyyathāpi so, bhikkhave, bhadro assājānīyo aṭṭhivedhaviddho saṁvijjati saṁvegaṁ āpajjati;
tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imaṁ bhadraṁ purisājānīyaṁ vadāmi.
Evarūpopi, bhikkhave, idhekacco bhadro purisājānīyo hoti.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho bhadro purisājānīyo santo saṁvijjamāno lokasmiṁ.
Ime kho, bhikkhave, cattāro bhadrā purisājānīyā santo saṁvijjamānā lokasmin”ti.
Tatiyaṁ.