TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí tâm trong sự tu tập khởi lên ước muốn như sau: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!” Tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ, không có tu tập Bốn chánh cần, không có tu tập Bốn như ý túc, không có tu tập Năm căn, không có tu tập Năm lực, không có tu tập Bảy Bồ-đề phần, không có tu tập Thánh đạo tám ngành.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.
Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn, tuy vậy, các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn!
Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà mái ấy không được con gà mái nằm ấp một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chú tâm trong sự tu tập, dầu cho có khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ… không có tu tập Thánh đạo tám ngành.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm trong sự tu tập, dầu cho không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ.
Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần, có tu tập Bốn như ý túc, có tu tập Năm căn, có tu tập Năm lực, có tu tập Bảy giác chi, có tu tập Thánh đạo tám ngành.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm đúng cách, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn!”, tuy vậy, các con gà con ấy có thể với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn.
Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm tu tập, dầu cho vị ấy không khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ… có tu tập Thánh đạo tám ngành.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nề hay đệ tử người thợ nề, khi nhìn vào cán búa, thấy dấu các ngón tay và dấu ngón tay cái. Người ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay từng ấy cán búa của ta bị hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng người ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chú tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay từng ấy lậu hoặc của ta được đoạn tận, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được các lậu hoặc được đoạn tận trên sự đoạn tận các lậu hoặc.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển, có đầy đủ cột buồm và dây buồm bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa đông, các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng. Rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng bị hư dần và mục nát một cách dễ dàng.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và mục nát.
“Bhāvanaṁ ananuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Abhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa abhāvitattā?
Catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, catunnaṁ sammappadhānānaṁ, catunnaṁ iddhipādānaṁ, pañcannaṁ indriyānaṁ, pañcannaṁ balānaṁ, sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā.
Tānassu kukkuṭiyā na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
atha kho abhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhāvanaṁ ananuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Abhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa abhāvitattā?
Catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, catunnaṁ sammappadhānānaṁ, catunnaṁ iddhipādānaṁ, pañcannaṁ indriyānaṁ, pañcannaṁ balānaṁ, sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Bhāvanaṁ anuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa bhāvitattā?
Catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, catunnaṁ sammappadhānānaṁ, catunnaṁ iddhipādānaṁ, pañcannaṁ indriyānaṁ, pañcannaṁ balānaṁ, sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā.
Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhāvanaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa bhāvitattā?
Catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ …pe… ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, phalagaṇḍassa vā phalagaṇḍantevāsikassa vā dissanteva vāsijaṭe aṅgulipadāni dissati aṅguṭṭhapadaṁ. No ca khvassa evaṁ ñāṇaṁ hoti: ‘ettakaṁ me ajja vāsijaṭassa khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti, atha khvassa khīṇe ‘khīṇan’teva ñāṇaṁ hoti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhāvanaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ ñāṇaṁ hoti: ‘ettakaṁ me ajja āsavānaṁ khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti, atha khvassa khīṇe ‘khīṇan’teva ñāṇaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, sāmuddikāya nāvāya vettabandhanabaddhāya cha māsāni udake pariyādāya hemantikena thale ukkhittāya vātātapaparetāni bandhanāni, tāni pāvussakena meghena abhippavuṭṭhāni appakasireneva parihāyanti, pūtikāni bhavanti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhāvanaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato appakasireneva saṁyojanāni paṭippassambhanti, pūtikāni bhavantī”ti.
Sattamaṁ.
“Mendicants, when a mendicant is not committed to development, they might wish:
‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’
Even so, their mind is not freed from defilements by not grasping.
Why is that?
You should say: ‘It’s because they’re undeveloped.’
Undeveloped in what?
The four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs.
But she had not properly sat on them to keep them warm and incubated.
Even if that chicken might wish:
‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’
Still they can’t break out and hatch safely.
Why is that?
Because she has not properly sat on them to keep them warm and incubated.
In the same way, when a mendicant is not committed to development, they might wish:
‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’
Even so, their mind is not freed from defilements by not grasping.
Why is that?
You should say: ‘It’s because they’re undeveloped.’
Undeveloped in what?
The four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
When a mendicant is committed to development, they might not wish:
‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’
Even so, their mind is freed from defilements by not grasping.
Why is that?
You should say: ‘It’s because they are developed.’
Developed in what?
The four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs.
And she properly sat on them to keep them warm and incubated.
Even if that chicken doesn’t wish:
‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’
Still they can break out and hatch safely.
Why is that?
Because she properly sat on them to keep them warm and incubated.
In the same way, when a mendicant is committed to development, they might not wish:
‘If only my mind were freed from the defilements by not grasping!’
Even so, their mind is freed from defilements by not grasping.
Why is that?
You should say: ‘It’s because they are developed.’
Developed in what?
The four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path.
Suppose a carpenter or their apprentice sees the marks of his fingers and thumb on the handle of his adze. They don’t know how much of the handle was worn away today, how much yesterday, and how much previously. They just know what has been worn away.
In the same way, when a mendicant is committed to development, they don’t know how much of the defilements were worn away today, how much yesterday, and how much previously. They just know what has been worn away.
Suppose there was a sea-faring ship bound together with ropes. For six months they deteriorated in the water. Then in the cold season it was hauled up on dry land, where the ropes were weathered by wind and sun. When the clouds soaked it with rain, the ropes would readily collapse and rot away.
In the same way, when a mendicant is committed to development their fetters readily collapse and rot away.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chí tâm trong sự tu tập khởi lên ước muốn như sau: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ!” Tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ, không có tu tập Bốn chánh cần, không có tu tập Bốn như ý túc, không có tu tập Năm căn, không có tu tập Năm lực, không có tu tập Bảy Bồ-đề phần, không có tu tập Thánh đạo tám ngành.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà, không được con gà mái ấp nằm đúng cách, không được ấp nóng đúng cách, không được ấp dưỡng đúng cách.
Dầu cho con gà mái ấy khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn, tuy vậy, các con gà con ấy không có thể, với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn!
Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà mái ấy không được con gà mái nằm ấp một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không chú tâm trong sự tu tập, dầu cho có khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy cũng không giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy không có tu tập. Không có tu tập cái gì? Không có tu tập Bốn niệm xứ… không có tu tập Thánh đạo tám ngành.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm trong sự tu tập, dầu cho không khởi lên ước muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ.
Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn chánh cần, có tu tập Bốn như ý túc, có tu tập Năm căn, có tu tập Năm lực, có tu tập Bảy giác chi, có tu tập Thánh đạo tám ngành.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có tám, mười hay mười hai trứng gà. Các trứng ấy được con gà mái ấp nằm đúng cách, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn. Dầu cho con gà mái ấy không khởi lên ý muốn: “Mong rằng những con gà con của ta, với chân móng và đỉnh đầu, hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn!”, tuy vậy, các con gà con ấy có thể với chân, móng, đỉnh đầu hay với miệng và mỏ, sau khi làm bể vỏ trứng, được sanh ra một cách an toàn.
Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, tám, mười hay mười hai trứng gà được con gà mái ấy ấp nằm một cách đúng đắn, ấp nóng một cách đúng đắn, ấp dưỡng một cách đúng đắn.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm tu tập, dầu cho vị ấy không khởi lên ý muốn: “Mong rằng tâm ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ”; tuy vậy, tâm vị ấy vẫn được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
Vì cớ sao? Phải nói rằng vì vị ấy có tu tập. Tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ… có tu tập Thánh đạo tám ngành.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nề hay đệ tử người thợ nề, khi nhìn vào cán búa, thấy dấu các ngón tay và dấu ngón tay cái. Người ấy không có thể biết được như sau: “Hôm nay từng ấy cán búa của ta bị hao mòn, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng người ấy biết được cán búa bị hao mòn trên sự hao mòn của cán búa.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chú tâm trong sự tu tập không có biết như sau: “Hôm nay từng ấy lậu hoặc của ta được đoạn tận, hôm qua từng ấy, các ngày khác từng ấy”. Nhưng vị ấy biết được các lậu hoặc được đoạn tận trên sự đoạn tận các lậu hoặc.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một chiếc thuyền đi biển, có đầy đủ cột buồm và dây buồm bị mắc cạn sáu tháng do thiếu nước trong mùa đông, các cột buồm và dây buồm bị gió và mặt trời làm hư hỏng. Rồi bị nước mưa đổ xuống trong mùa mưa, chúng bị hư dần và mục nát một cách dễ dàng.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chú tâm trong sự tu tập, các kiết sử rất dễ bị yếu dần và mục nát.
“Bhāvanaṁ ananuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Abhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa abhāvitattā?
Catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, catunnaṁ sammappadhānānaṁ, catunnaṁ iddhipādānaṁ, pañcannaṁ indriyānaṁ, pañcannaṁ balānaṁ, sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā.
Tānassu kukkuṭiyā na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
atha kho abhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni na sammā adhisayitāni, na sammā pariseditāni, na sammā paribhāvitāni.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhāvanaṁ ananuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
atha khvassa neva anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Abhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa abhāvitattā?
Catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, catunnaṁ sammappadhānānaṁ, catunnaṁ iddhipādānaṁ, pañcannaṁ indriyānaṁ, pañcannaṁ balānaṁ, sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Bhāvanaṁ anuyuttassa, bhikkhave, bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa bhāvitattā?
Catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ, catunnaṁ sammappadhānānaṁ, catunnaṁ iddhipādānaṁ, pañcannaṁ indriyānaṁ, pañcannaṁ balānaṁ, sattannaṁ bojjhaṅgānaṁ, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā.
Tānassu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi, bhikkhave, kukkuṭiyā aṇḍāni sammā adhisayitāni, sammā pariseditāni, sammā paribhāvitāni.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhāvanaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ icchā uppajjeyya:
‘aho vata me anupādāya āsavehi cittaṁ vimucceyyā’ti,
atha khvassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati.
Taṁ kissa hetu?
‘Bhāvitattā’tissa vacanīyaṁ.
Kissa bhāvitattā?
Catunnaṁ satipaṭṭhānānaṁ …pe… ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, phalagaṇḍassa vā phalagaṇḍantevāsikassa vā dissanteva vāsijaṭe aṅgulipadāni dissati aṅguṭṭhapadaṁ. No ca khvassa evaṁ ñāṇaṁ hoti: ‘ettakaṁ me ajja vāsijaṭassa khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti, atha khvassa khīṇe ‘khīṇan’teva ñāṇaṁ hoti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhāvanaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato kiñcāpi na evaṁ ñāṇaṁ hoti: ‘ettakaṁ me ajja āsavānaṁ khīṇaṁ, ettakaṁ hiyyo, ettakaṁ pare’ti, atha khvassa khīṇe ‘khīṇan’teva ñāṇaṁ hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, sāmuddikāya nāvāya vettabandhanabaddhāya cha māsāni udake pariyādāya hemantikena thale ukkhittāya vātātapaparetāni bandhanāni, tāni pāvussakena meghena abhippavuṭṭhāni appakasireneva parihāyanti, pūtikāni bhavanti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhāvanaṁ anuyuttassa bhikkhuno viharato appakasireneva saṁyojanāni paṭippassambhanti, pūtikāni bhavantī”ti.
Sattamaṁ.