TTC 1Bấy giờ có Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
TTC 2—Bạch Thế Tôn, do duyên bao nhiêu mục đích, các học pháp thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc?
—Này Upàli, do duyên mười mục đích, các học pháp được thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc. Thế nào là mười?
TTC 3Ðể tăng chúng được cực thiện, để Tăng chúng được an ổn, để chận đứng các người cứng đầu, để các thiện Tỷ-kheo được sống an ổn, để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện tại, để chận đứng các lậu hoặc trong tương lai, để đem lại tịnh tín cho những người không tin, để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người có lòng tin, để diệu pháp được tồn tại, để luật được chấp nhận.
Do duyên mười mục đích này, này Upàli, các học pháp được thiết lập cho các đệ tử Như Lai, và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc.
TTC 4—Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu trường hợp, giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc?
—Này Upàli, có mười trường hợp, giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc. Thế nào là mười?
TTC 5Khi có người phạm Ba-la-di tội ngồi trong hội chúng ấy, khi thảo luận về người phạm Ba-la-di tội chưa chấm dứt, khi có người nào chưa thọ cụ túc giới ngồi trong hội chúng ấy, khi thảo luận về người chưa thọ cụ túc giới chưa chấm dứt, khi một người từ bỏ học pháp ngồi xuống trong hội chúng, khi cuộc thảo luận về con người từ bỏ học pháp chưa chấm dứt, khi có người thiếu nam căn còn ngồi trong hội chúng ấy, khi cuộc thảo luận về người thiếu nam căn chưa chấm dứt, khi có người “ô nhục Tỷ-kheo-ni” còn ngồi trong hội chúng ấy, khi cuộc thảo luân về người ô nhục Tỷ-kheo-ni chưa được chấm dứt.
Này Upàli, đây là mười trường hợp giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc.
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca:
“kati nu kho, bhante, atthavase paṭicca tathāgatena sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ, pātimokkhaṁ uddiṭṭhan”ti?
“Dasa kho, upāli, atthavase paṭicca tathāgatena sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ, pātimokkhaṁ uddiṭṭhaṁ.
Katame dasa?
Saṅghasuṭṭhutāya, saṅghaphāsutāya, dummaṅkūnaṁ puggalānaṁ niggahāya, pesalānaṁ bhikkhūnaṁ phāsuvihārāya, diṭṭhadhammikānaṁ āsavānaṁ saṁvarāya, samparāyikānaṁ āsavānaṁ paṭighātāya, appasannānaṁ pasādāya, pasannānaṁ bhiyyobhāvāya, saddhammaṭṭhitiyā, vinayānuggahāya—
ime kho, upāli, dasa atthavase paṭicca tathāgatena sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ, pātimokkhaṁ uddiṭṭhan”ti.
Paṭhamaṁ.
SC 1Then the Venerable Upāli approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:
SC 2“Bhante, on how many grounds has the Tathāgata prescribed the training rules for his disciples and recited the Pātimokkha?”
SC 3“It is, Upāli, on ten grounds that the Tathāgata has prescribed the training rules for his disciples and recited the Pātimokkha. What ten? (1) For the well-being of the Saṅgha; (2) for the ease of the Saṅgha; (3) for keeping recalcitrant persons in check; (4) so that well-behaved bhikkhus can dwell at ease; (5) for the restraint of taints pertaining to this present life; (6) for the dispelling of taints pertaining to future lives; (7) so that those without confidence might gain confidence; and (8) for increasing the confidence of those with confidence; (9) for the continuation of the good Dhamma; and (10) for promoting discipline.
SC 4“It is on these ten grounds that the Tathāgata has prescribed the training rules for his disciples and recited the Pātimokkha.”
TTC 1Bấy giờ có Tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn:
TTC 2—Bạch Thế Tôn, do duyên bao nhiêu mục đích, các học pháp thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc?
—Này Upàli, do duyên mười mục đích, các học pháp được thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc. Thế nào là mười?
TTC 3Ðể tăng chúng được cực thiện, để Tăng chúng được an ổn, để chận đứng các người cứng đầu, để các thiện Tỷ-kheo được sống an ổn, để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện tại, để chận đứng các lậu hoặc trong tương lai, để đem lại tịnh tín cho những người không tin, để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người có lòng tin, để diệu pháp được tồn tại, để luật được chấp nhận.
Do duyên mười mục đích này, này Upàli, các học pháp được thiết lập cho các đệ tử Như Lai, và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc.
TTC 4—Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu trường hợp, giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc?
—Này Upàli, có mười trường hợp, giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc. Thế nào là mười?
TTC 5Khi có người phạm Ba-la-di tội ngồi trong hội chúng ấy, khi thảo luận về người phạm Ba-la-di tội chưa chấm dứt, khi có người nào chưa thọ cụ túc giới ngồi trong hội chúng ấy, khi thảo luận về người chưa thọ cụ túc giới chưa chấm dứt, khi một người từ bỏ học pháp ngồi xuống trong hội chúng, khi cuộc thảo luận về con người từ bỏ học pháp chưa chấm dứt, khi có người thiếu nam căn còn ngồi trong hội chúng ấy, khi cuộc thảo luận về người thiếu nam căn chưa chấm dứt, khi có người “ô nhục Tỷ-kheo-ni” còn ngồi trong hội chúng ấy, khi cuộc thảo luân về người ô nhục Tỷ-kheo-ni chưa được chấm dứt.
Này Upàli, đây là mười trường hợp giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc.
Atha kho āyasmā upāli yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā upāli bhagavantaṁ etadavoca:
“kati nu kho, bhante, atthavase paṭicca tathāgatena sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ, pātimokkhaṁ uddiṭṭhan”ti?
“Dasa kho, upāli, atthavase paṭicca tathāgatena sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ, pātimokkhaṁ uddiṭṭhaṁ.
Katame dasa?
Saṅghasuṭṭhutāya, saṅghaphāsutāya, dummaṅkūnaṁ puggalānaṁ niggahāya, pesalānaṁ bhikkhūnaṁ phāsuvihārāya, diṭṭhadhammikānaṁ āsavānaṁ saṁvarāya, samparāyikānaṁ āsavānaṁ paṭighātāya, appasannānaṁ pasādāya, pasannānaṁ bhiyyobhāvāya, saddhammaṭṭhitiyā, vinayānuggahāya—
ime kho, upāli, dasa atthavase paṭicca tathāgatena sāvakānaṁ sikkhāpadaṁ paññattaṁ, pātimokkhaṁ uddiṭṭhan”ti.
Paṭhamaṁ.