—Thành tựu với ba chi phần, này các Tỷ-kheo, người buôn bán không bao lâu đạt được về tài sản lớn mạnh và rộng lớn. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán có mắt, khéo phấn đấu và xây dựng được cơ bản.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người buôn bán có mắt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán biết các thương phẩm. Vật này mua như vậy, bán như vậy, sẽ đưa lại tiền như vậy, tiền lời như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán có mắt.
Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán khéo phấn đấu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người thương gia khéo léo mua và bán các thương phẩm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán khéo phấn đấu.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người thương gia xây dựng được căn bản? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán được các gia chủ hay con các gia chủ, được các nhà giàu, có tiền bạc lớn, có tài sản lớn biết đến như sau: “Người buôn bán này là người có mắt, khéo phấn đấu, có đủ sức cấp dưỡng vợ con, và thường trả tiền lời cho chúng ta. Chúng ta trao hàng hóa cho người này: “Này bạn thương gia, hãy lấy tiền này, xây dựng tài sản để nuôi dưỡng vợ con và thường thường trả tiền lời cho chúng tôi”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán xây dựng được cơ bản.
Thành tựu với ba chi phần này, này các Tỷ kheo, người buôn bán, không bao lâu đạt đến tài sản lớn mạnh và rộng lớn.
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, thành tựu với ba pháp, vị Tỷ-kheo không bao lâu, đạt đến lớn mạnh và rộng lớn về các Thiện pháp. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có mắt, khéo phấn đấu và xây dựng được cơ bản.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo có mắt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết rõ: “Ðây là khổ” … như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo có mắt.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo phấn đấu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn, đoạn tận các pháp bất thiện, làm cho sanh khởi các pháp thiện, dõng mãnh, kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo phấn đấu.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo xây dựng được cơ bản? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập Agàma (A-hàm), bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, thường thường đến yết kiến, phỏng vấn, đặt các câu hỏi: “Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Pháp này ý nghĩa gì? “Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa được mở rộng, phơi bày những gì chưa được phơi bày, và đối với những đoạn sai khác còn có những chỗ nghi ngờ, các vị ấy giải thích các sự nghi ngờ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo xây dựng được cơ bản.
Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, đạt đến sự lớn mạnh và rộng lớn về các thiện pháp.
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato pāpaṇiko nacirasseva mahattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti bhogesu.
Katamehi tīhi?
Idha, bhikkhave, pāpaṇiko cakkhumā ca hoti vidhuro ca nissayasampanno ca.
Kathañca, bhikkhave, pāpaṇiko cakkhumā hoti?
Idha, bhikkhave, pāpaṇiko paṇiyaṁ jānāti:
‘idaṁ paṇiyaṁ evaṁ kītaṁ, evaṁ vikkayamānaṁ, ettakaṁ mūlaṁ bhavissati, ettako udayo’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpaṇiko cakkhumā hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpaṇiko vidhuro hoti?
Idha, bhikkhave, pāpaṇiko kusalo hoti paṇiyaṁ ketuñca vikketuñca.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpaṇiko vidhuro hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpaṇiko nissayasampanno hoti?
Idha, bhikkhave, pāpaṇikaṁ ye te gahapatī vā gahapatiputtā vā aḍḍhā mahaddhanā mahābhogā te evaṁ jānanti:
‘ayaṁ kho bhavaṁ pāpaṇiko cakkhumā vidhuro ca paṭibalo puttadārañca posetuṁ, amhākañca kālena kālaṁ anuppadātun’ti.
Te naṁ bhogehi nipatanti:
‘ito, samma pāpaṇika, bhoge karitvā puttadārañca posehi, amhākañca kālena kālaṁ anuppadehī’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpaṇiko nissayasampanno hoti.
Imehi kho, bhikkhave, tīhi aṅgehi samannāgato pāpaṇiko nacirasseva mahattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti bhogesu.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu nacirasseva mahattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti kusalesu dhammesu.
Katamehi tīhi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhumā ca hoti vidhuro ca nissayasampanno ca.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu cakkhumā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu cakkhumā hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu vidhuro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu vidhuro hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu nissayasampanno hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripucchati paripañhati:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti?
Tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti, anuttānīkatañca uttānīkaronti, anekavihitesu ca kaṅkhāṭhāniyesu dhammesu kaṅkhaṁ paṭivinodenti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu nissayasampanno hoti.
Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu nacirasseva mahattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti kusalesu dhammesū”ti.
Dasamaṁ.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
Rathakāravaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Ñāto sāraṇīyo bhikkhu,
cakkavattī sacetano;
Apaṇṇakattā devo ca,
duve pāpaṇikena cāti.
SC 1“Bhikkhus, possessing three factors, a shopkeeper soon attains vast and abundant wealth. What three? Here, a shopkeeper has keen eyes, is responsible, and has benefactors.
SC 2(1) “And how, bhikkhus, does a shopkeeper have keen eyes? Here, a shopkeeper knows of an item: ‘If this item is bought at such a price and sold at such a price, it will require this much capital and bring this much profit.’ It is in this way that a shopkeeper has keen eyes.
SC 3(2) “And how is a shopkeeper responsible? Here, a shopkeeper is skilled in buying and selling goods. It is in this way that a shopkeeper is responsible.
SC 4(3) “And how does a shopkeeper have benefactors? an.i.117 Here, rich, wealthy, affluent householders and householders’ sons know him thus: ‘This good shopkeeper has keen eyes and is responsible; he is able to support his wife and children and pay us back from time to time.’ So they deposit wealth with him, saying: ‘Having earned wealth with this, friend shopkeeper, support your wife and children and pay us back from time to time.’ It is in this way that a shopkeeper has benefactors.
SC 5“Possessing these three factors, a shopkeeper soon attains vast and abundant wealth.
SC 6“So too, bhikkhus, possessing three qualities, a bhikkhu soon attains vast and abundant wholesome qualities. What three? Here, a bhikkhu has keen eyes, is responsible, and has benefactors.
SC 7(1) “And how, bhikkhus, does a bhikkhu have keen eyes? Here, a bhikkhu understands as it really is: ‘This is suffering’ … ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’ It is in this way that a bhikkhu has keen eyes.
SC 8(2) “And how is a bhikkhu responsible? Here, a bhikkhu has aroused energy for abandoning unwholesome qualities and acquiring wholesome qualities; he is strong, firm in exertion, not casting off the duty of cultivating wholesome qualities. It is in this way that a bhikkhu is responsible.
SC 9(3) “And how does a bhikkhu have benefactors? Here, from time to time a bhikkhu approaches those bhikkhus who are learned, heirs to the heritage, experts on the Dhamma, experts on the discipline, experts on the outlines, and inquires: ‘How is this, Bhante? What is the meaning of this?’ Those venerable ones then disclose to him what has not been disclosed, clear up what is obscure, and dispel his perplexity about numerous perplexing points. It is in this way that a bhikkhu has benefactors. an.i.118
SC 10“Possessing these three qualities, a bhikkhu soon attains vast and abundant wholesome qualities.”
—Thành tựu với ba chi phần, này các Tỷ-kheo, người buôn bán không bao lâu đạt được về tài sản lớn mạnh và rộng lớn. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán có mắt, khéo phấn đấu và xây dựng được cơ bản.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người buôn bán có mắt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán biết các thương phẩm. Vật này mua như vậy, bán như vậy, sẽ đưa lại tiền như vậy, tiền lời như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán có mắt.
Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán khéo phấn đấu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người thương gia khéo léo mua và bán các thương phẩm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán khéo phấn đấu.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là người thương gia xây dựng được căn bản? Ở đây, này các Tỷ-kheo, người buôn bán được các gia chủ hay con các gia chủ, được các nhà giàu, có tiền bạc lớn, có tài sản lớn biết đến như sau: “Người buôn bán này là người có mắt, khéo phấn đấu, có đủ sức cấp dưỡng vợ con, và thường trả tiền lời cho chúng ta. Chúng ta trao hàng hóa cho người này: “Này bạn thương gia, hãy lấy tiền này, xây dựng tài sản để nuôi dưỡng vợ con và thường thường trả tiền lời cho chúng tôi”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là người buôn bán xây dựng được cơ bản.
Thành tựu với ba chi phần này, này các Tỷ kheo, người buôn bán, không bao lâu đạt đến tài sản lớn mạnh và rộng lớn.
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, thành tựu với ba pháp, vị Tỷ-kheo không bao lâu, đạt đến lớn mạnh và rộng lớn về các Thiện pháp. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có mắt, khéo phấn đấu và xây dựng được cơ bản.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo có mắt? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thật biết rõ: “Ðây là khổ” … như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo có mắt.
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo phấn đấu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn, đoạn tận các pháp bất thiện, làm cho sanh khởi các pháp thiện, dõng mãnh, kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo khéo phấn đấu.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo xây dựng được cơ bản? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập Agàma (A-hàm), bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, thường thường đến yết kiến, phỏng vấn, đặt các câu hỏi: “Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Pháp này ý nghĩa gì? “Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa được mở rộng, phơi bày những gì chưa được phơi bày, và đối với những đoạn sai khác còn có những chỗ nghi ngờ, các vị ấy giải thích các sự nghi ngờ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo xây dựng được cơ bản.
Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, đạt đến sự lớn mạnh và rộng lớn về các thiện pháp.
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato pāpaṇiko nacirasseva mahattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti bhogesu.
Katamehi tīhi?
Idha, bhikkhave, pāpaṇiko cakkhumā ca hoti vidhuro ca nissayasampanno ca.
Kathañca, bhikkhave, pāpaṇiko cakkhumā hoti?
Idha, bhikkhave, pāpaṇiko paṇiyaṁ jānāti:
‘idaṁ paṇiyaṁ evaṁ kītaṁ, evaṁ vikkayamānaṁ, ettakaṁ mūlaṁ bhavissati, ettako udayo’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpaṇiko cakkhumā hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpaṇiko vidhuro hoti?
Idha, bhikkhave, pāpaṇiko kusalo hoti paṇiyaṁ ketuñca vikketuñca.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpaṇiko vidhuro hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpaṇiko nissayasampanno hoti?
Idha, bhikkhave, pāpaṇikaṁ ye te gahapatī vā gahapatiputtā vā aḍḍhā mahaddhanā mahābhogā te evaṁ jānanti:
‘ayaṁ kho bhavaṁ pāpaṇiko cakkhumā vidhuro ca paṭibalo puttadārañca posetuṁ, amhākañca kālena kālaṁ anuppadātun’ti.
Te naṁ bhogehi nipatanti:
‘ito, samma pāpaṇika, bhoge karitvā puttadārañca posehi, amhākañca kālena kālaṁ anuppadehī’ti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpaṇiko nissayasampanno hoti.
Imehi kho, bhikkhave, tīhi aṅgehi samannāgato pāpaṇiko nacirasseva mahattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti bhogesu.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu nacirasseva mahattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti kusalesu dhammesu.
Katamehi tīhi?
Idha, bhikkhave, bhikkhu cakkhumā ca hoti vidhuro ca nissayasampanno ca.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu cakkhumā hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu cakkhumā hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu vidhuro hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu vidhuro hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu nissayasampanno hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu ye te bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā te kālena kālaṁ upasaṅkamitvā paripucchati paripañhati:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ, imassa ko attho’ti?
Tassa te āyasmanto avivaṭañceva vivaranti, anuttānīkatañca uttānīkaronti, anekavihitesu ca kaṅkhāṭhāniyesu dhammesu kaṅkhaṁ paṭivinodenti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu nissayasampanno hoti.
Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu nacirasseva mahattaṁ vepullattaṁ pāpuṇāti kusalesu dhammesū”ti.
Dasamaṁ.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
Rathakāravaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Ñāto sāraṇīyo bhikkhu,
cakkavattī sacetano;
Apaṇṇakattā devo ca,
duve pāpaṇikena cāti.