—Này các Tỷ-kheo, có năm bố thí đúng thời này. Thế nào là năm?
Bố thí cho người đến, bố thí cho người đi, bố thí cho người đau bệnh, bố thí trong thời đói, phàm có những hoa quả gì mới gặt hái được, dành chúng đầu tiên để cúng dường các bậc giữ giới. Này các Tỷ-kheo, năm pháp này là năm bố thí đúng thời.
Có trí, thí đúng thời,
Lời từ ái, không tham,
Ðúng thời, thí bậc thánh,
Bậc Chánh trực, Thế Tôn.
Cúng dường vậy to lớn,
Ðưa đến lòng tịnh tín,
Ở đây người tùy hỷ,
Cùng người làm nghiệp vụ.
Không ai thiếu cúng dường,
Họ san sẻ công đức,
Do vậy hãy bố thí,
Với tâm không hạn chế.
Chỗ nào với bố thí,
Ðưa đến kết quả lớn,
Ðối với các hữu hình,
Công đức được an lập,
Cho đến trong đời sau.
“Pañcimāni, bhikkhave, kāladānāni.
Katamāni pañca?
Āgantukassa dānaṁ deti;
gamikassa dānaṁ deti;
gilānassa dānaṁ deti;
dubbhikkhe dānaṁ deti;
yāni tāni navasassāni navaphalāni tāni paṭhamaṁ sīlavantesu patiṭṭhāpeti.
Imāni kho, bhikkhave, pañca kāladānānīti.
Kāle dadanti sappaññā,
vadaññū vītamaccharā;
Kālena dinnaṁ ariyesu,
ujubhūtesu tādisu.
Vippasannamanā tassa,
vipulā hoti dakkhiṇā;
Ye tattha anumodanti,
veyyāvaccaṁ karonti vā;
Na tena dakkhiṇā ūnā,
tepi puññassa bhāgino.
Tasmā dade appaṭivānacitto,
Yattha dinnaṁ mahapphalaṁ;
Puññāni paralokasmiṁ,
Patiṭṭhā honti pāṇinan”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these five timely gifts. What five? (1) One gives a gift to a visitor. (2) One gives a gift to one setting out on a journey. (3) One gives a gift to a patient. (4) One gives a gift during a famine. (5) One first presents the newly harvested crops and fruits to the virtuous ones. These are the five timely gifts.”
At the proper time, those wise,
charitable, and generous folk
give a timely gift to the noble ones,
who are stable and upright;
given with a clear mind,
one’s offering is vast.
SC 2Those who rejoice in such deeds
or who provide other service
do not miss out on the offering;
they too partake of the merit.
SC 3Therefore, with a non-regressing mind,
one should give a gift where it yields great fruit.
Merits are the support of living beings
when they arise in the other world. an.iii.42
—Này các Tỷ-kheo, có năm bố thí đúng thời này. Thế nào là năm?
Bố thí cho người đến, bố thí cho người đi, bố thí cho người đau bệnh, bố thí trong thời đói, phàm có những hoa quả gì mới gặt hái được, dành chúng đầu tiên để cúng dường các bậc giữ giới. Này các Tỷ-kheo, năm pháp này là năm bố thí đúng thời.
Có trí, thí đúng thời,
Lời từ ái, không tham,
Ðúng thời, thí bậc thánh,
Bậc Chánh trực, Thế Tôn.
Cúng dường vậy to lớn,
Ðưa đến lòng tịnh tín,
Ở đây người tùy hỷ,
Cùng người làm nghiệp vụ.
Không ai thiếu cúng dường,
Họ san sẻ công đức,
Do vậy hãy bố thí,
Với tâm không hạn chế.
Chỗ nào với bố thí,
Ðưa đến kết quả lớn,
Ðối với các hữu hình,
Công đức được an lập,
Cho đến trong đời sau.
“Pañcimāni, bhikkhave, kāladānāni.
Katamāni pañca?
Āgantukassa dānaṁ deti;
gamikassa dānaṁ deti;
gilānassa dānaṁ deti;
dubbhikkhe dānaṁ deti;
yāni tāni navasassāni navaphalāni tāni paṭhamaṁ sīlavantesu patiṭṭhāpeti.
Imāni kho, bhikkhave, pañca kāladānānīti.
Kāle dadanti sappaññā,
vadaññū vītamaccharā;
Kālena dinnaṁ ariyesu,
ujubhūtesu tādisu.
Vippasannamanā tassa,
vipulā hoti dakkhiṇā;
Ye tattha anumodanti,
veyyāvaccaṁ karonti vā;
Na tena dakkhiṇā ūnā,
tepi puññassa bhāgino.
Tasmā dade appaṭivānacitto,
Yattha dinnaṁ mahapphalaṁ;
Puññāni paralokasmiṁ,
Patiṭṭhā honti pāṇinan”ti.
Chaṭṭhaṁ.