TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về dục tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Và do duyên với dục, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi cái dục.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sân, tâm không phấn chấn trong sân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sân, tâm liền phấn chấn trong vô sân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân. Và do duyên với sân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi sân.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về hại, tâm không phấn chấn trong hại, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô hại, tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến hại. Và do duyên với hại, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi hại.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sắc, tâm không phấn chấn trong sắc, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sắc, tâm liền phấn chấn trong vô sắc, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sắc. Và do duyên với sắc, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi sắc.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về có thân, tâm không phấn chấn trong có thân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến đoạn diệt có thân, tâm liền phấn chấn trong đoạn diệt có thân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến có thân. Và do duyên với có thân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi có thân.
Ðối với vị ấy, dục hỷ không có tùy miên, sân hỷ không có tùy miên, hại hỷ không có tùy miên, sắc hỷ không có tùy miên, hữu thân hỷ không có tùy miên. Vị ấy không có tùy miên đối với dục hỷ, không có tùy miên đối với sân hỷ, không có tùy miên đối với hại hỷ, không có tùy miên đối với sắc hỷ, không có tùy miên đối với hữu thân hỷ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi tùy miên, đã chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử, do chánh pháp nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau.
Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này.
“Pañcimā, bhikkhave, nissāraṇīyā dhātuyo.
Katamā pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno kāmaṁ manasikaroto kāmesu cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Nekkhammaṁ kho panassa manasikaroto nekkhamme cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ kāmehi;
ye ca kāmapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ kāmānaṁ nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno byāpādaṁ manasikaroto byāpāde cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Abyāpādaṁ kho panassa manasikaroto abyāpāde cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ byāpādena;
ye ca byāpādapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ byāpādassa nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno vihesaṁ manasikaroto vihesāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Avihesaṁ kho panassa manasikaroto avihesāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ vihesāya;
ye ca vihesāpaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ vihesāya nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno rūpaṁ manasikaroto rūpe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Arūpaṁ kho panassa manasikaroto arūpe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ rūpehi;
ye ca rūpapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ rūpānaṁ nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyaṁ manasikaroto sakkāye cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Sakkāyanirodhaṁ kho panassa manasikaroto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ sakkāyena;
ye ca sakkāyapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ sakkāyassa nissaraṇaṁ.
Tassa kāmanandīpi nānuseti, byāpādanandīpi nānuseti, vihesānandīpi nānuseti, rūpanandīpi nānuseti, sakkāyanandīpi nānuseti so kāmanandiyāpi ananusayā, byāpādanandiyāpi ananusayā, vihesānandiyāpi ananusayā, rūpanandiyāpi ananusayā, sakkāyanandiyāpi ananusayā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu niranusayo, acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassa.
Imā kho, bhikkhave, pañca nissāraṇīyā dhātuyo”ti.
Dasamaṁ.
Brāhmaṇavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Soṇo doṇo saṅgāravo,
Kāraṇapālī ca piṅgiyānī;
Supinā ca vassā vācā,
Kulaṁ nissāraṇīyena cāti.
Catuttho paṇṇāsako samatto.
“Five properties lead to escape. Which five?
“There is the case where the mind of a monk, when attending to sensual pleasures, doesn’t leap up at sensual pleasures, doesn’t grow confident, steadfast, or released in sensual pleasures. But when attending to renunciation, his mind leaps up at renunciation, grows confident, steadfast, & released in renunciation. When his mind is rightly-gone, rightly developed, has rightly risen above, gained release, and become disjoined from sensual pleasures, then whatever fermentations, torments, & fevers there are that arise in dependence on sensuality, he is released from them. He does not experience that feeling. This is expounded as the escape from sensual pleasures.
“Furthermore, there is the case where the mind of a monk, when attending to ill will, doesn’t leap up at ill will, doesn’t grow confident, steadfast, or released in ill will. But when attending to non-ill will, his mind leaps up at non-ill will, grows confident, steadfast, & released in non-ill will. When his mind is rightly-gone, rightly developed, has rightly risen above, gained release, and become disjoined from ill will, then whatever fermentations, torments, & fevers there are that arise in dependence on ill will, he is released from them. He does not experience that feeling. This is expounded as the escape from ill will.
“Furthermore, there is the case where the mind of a monk, when attending to harmfulness, doesn’t leap up at harmfulness, doesn’t grow confident, steadfast, or released in harmfulness. But when attending to harmlessness, his mind leaps up at harmlessness, grows confident, steadfast, & released in harmlessness. When his mind is rightly-gone, rightly developed, has rightly risen above, gained release, and become disjoined from harmfulness, then whatever fermentations, torments, & fevers there are that arise in dependence on harmfulness, he is released from them. He does not experience that feeling. This is expounded as the escape from harmfulness.
“Furthermore, there is the case where the mind of a monk, when attending to forms, doesn’t leap up at forms, doesn’t grow confident, steadfast, or released in forms. But when attending to the formless, his mind leaps up at the formless, grows confident, steadfast, & released in the formless. When his mind is rightly-gone, rightly developed, has rightly risen above, gained release, and become disjoined from forms, then whatever fermentations, torments, & fevers there are that arise in dependence on forms, he is released from them. He does not experience that feeling. This is expounded as the escape from forms.
“Furthermore, there is the case where the mind of a monk, when attending to self-identity, doesn’t leap up at self-identity, doesn’t grow confident, steadfast, or released in self-identity. But when attending to the cessation of self-identity, his mind leaps up at the cessation of self-identity, grows confident, steadfast, & released in the cessation of self-identity. When his mind is rightly-gone, rightly developed, has rightly risen above, gained release, and become disjoined from self-identity, then whatever fermentations, torments, & fevers there are that arise in dependence on self-identity, he is released from them. He does not experience that feeling. This is expounded as the escape from self-identity.
“Delight in sensuality does not obsess him. Delight in ill will does not obsess him. Delight in harmfulness does not obsess him. Delight in form does not obsess him. Delight in self-identity does not obsess him. From the lack of any obsession with sensuality, the lack of any obsession with ill will… to harmfulness… to form… to self-identity, he is called a monk without attachment. He has cut through craving, has turned away from the fetter, and by rightly breaking through conceit he has put an end to suffering & stress.
“These are the five properties that lead to escape.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về dục tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Và do duyên với dục, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi cái dục.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sân, tâm không phấn chấn trong sân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sân, tâm liền phấn chấn trong vô sân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân. Và do duyên với sân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi sân.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về hại, tâm không phấn chấn trong hại, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô hại, tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến hại. Và do duyên với hại, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi hại.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sắc, tâm không phấn chấn trong sắc, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sắc, tâm liền phấn chấn trong vô sắc, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sắc. Và do duyên với sắc, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly ra khỏi sắc.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về có thân, tâm không phấn chấn trong có thân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến đoạn diệt có thân, tâm liền phấn chấn trong đoạn diệt có thân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến có thân. Và do duyên với có thân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi có thân.
Ðối với vị ấy, dục hỷ không có tùy miên, sân hỷ không có tùy miên, hại hỷ không có tùy miên, sắc hỷ không có tùy miên, hữu thân hỷ không có tùy miên. Vị ấy không có tùy miên đối với dục hỷ, không có tùy miên đối với sân hỷ, không có tùy miên đối với hại hỷ, không có tùy miên đối với sắc hỷ, không có tùy miên đối với hữu thân hỷ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi tùy miên, đã chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử, do chánh pháp nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau.
Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này.
“Pañcimā, bhikkhave, nissāraṇīyā dhātuyo.
Katamā pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno kāmaṁ manasikaroto kāmesu cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Nekkhammaṁ kho panassa manasikaroto nekkhamme cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ kāmehi;
ye ca kāmapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ kāmānaṁ nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno byāpādaṁ manasikaroto byāpāde cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Abyāpādaṁ kho panassa manasikaroto abyāpāde cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ byāpādena;
ye ca byāpādapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ byāpādassa nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno vihesaṁ manasikaroto vihesāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Avihesaṁ kho panassa manasikaroto avihesāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ vihesāya;
ye ca vihesāpaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ vihesāya nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno rūpaṁ manasikaroto rūpe cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Arūpaṁ kho panassa manasikaroto arūpe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ rūpehi;
ye ca rūpapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ rūpānaṁ nissaraṇaṁ.
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhuno sakkāyaṁ manasikaroto sakkāye cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
Sakkāyanirodhaṁ kho panassa manasikaroto sakkāyanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Tassa taṁ cittaṁ sugataṁ subhāvitaṁ suvuṭṭhitaṁ suvimuttaṁ suvisaṁyuttaṁ sakkāyena;
ye ca sakkāyapaccayā uppajjanti āsavā vighātapariḷāhā, mutto so tehi, na so taṁ vedanaṁ vediyati.
Idamakkhātaṁ sakkāyassa nissaraṇaṁ.
Tassa kāmanandīpi nānuseti, byāpādanandīpi nānuseti, vihesānandīpi nānuseti, rūpanandīpi nānuseti, sakkāyanandīpi nānuseti so kāmanandiyāpi ananusayā, byāpādanandiyāpi ananusayā, vihesānandiyāpi ananusayā, rūpanandiyāpi ananusayā, sakkāyanandiyāpi ananusayā.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, bhikkhu niranusayo, acchecchi taṇhaṁ, vivattayi saṁyojanaṁ, sammā mānābhisamayā antamakāsi dukkhassa.
Imā kho, bhikkhave, pañca nissāraṇīyā dhātuyo”ti.
Dasamaṁ.
Brāhmaṇavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Soṇo doṇo saṅgāravo,
Kāraṇapālī ca piṅgiyānī;
Supinā ca vassā vācā,
Kulaṁ nissāraṇīyena cāti.
Catuttho paṇṇāsako samatto.