TTC 1—Này các Tỷ-kheo, khi nào một thành trì biên địa của vua được khéo trang bị với bảy trang bị của một thành trì, và bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc; có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, thành trì biên địa ấy được gọi là không bị chinh phục bởi quân địch ở bên ngoài và kẻ đồng minh phản nghịch ở bên trong. Thế nào là được khéo trang bị với bảy trang bị của một thành trì?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một cột trụ đâm sâu vào đất, khéo đào sâu, không bị dao động, không bị lay chuyển. Với trang bị thành trì thứ nhất này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một đường thông hào sâu và rộng. Với trang bị thành trì thứ hai này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một đường chạy vòng xung quanh vừa cao và vừa rộng. Với trang bị thành trì thứ ba này của một thành trì, là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều vũ khí được cất chứa như Salàkam (cung tên) và Jevanìyam (cây lao) với trang bị thành trì thứ tư này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều quân đội đồn trú, như những người cưỡi voi, những người cưỡi ngựa, những người cưỡi xe, những người cầm cung, những người cầm cờ, các quan lo chỗ ở, các lính lo vấn đề lương thực, những người con vua dõng mãnh, những bộ đội xung kích, đội voi lớn, các dũng sĩ, các binh sĩ mặc áo giáp, những người con của các nô tỳ. Với trang bị thành trì thứ năm này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua, có người giữ cửa thành là người hiền trí, thông minh, có trí, ngăn chặn những người lạ mặt, cho vào những người quen biết. Với sự trang bị thành trì thứ sáu này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có bức thành vừa cao vừa rộng, ngoài mặt có trét vôi hồ. Với sự trang bị thành trì thứ bảy này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
Với bảy loại trang bị thành trì này, thành trì được xem là được khéo trang bị. Thế nào là bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều cỏ, củi, nước được tích trữ để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều lúa và lùa mì để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều mè, đậu, các loại giả đậu và ngũ cốc để những người ở trong thành… để chống cự những người bên ngoài.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều dược phẩm, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, muối để những người ở trong thành… để chống cự những người bên ngoài.
Bốn loại đồ ăn này, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, một thành trì biên địa của vua, được khéo trang bị với bảy món trang bị này của một thành trì và bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, thành trì biên địa ấy được gọi là không bị chinh phục bởi quân địch ở bên ngoài và kẻ đồng minh phản nghịch ở bên trong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử thành tựu với bảy diệu pháp và bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử này được gọi là không bị Ma chinh phục, không bị ác chinh phục. Vị ấy thành tựu bảy pháp gì?
TTC 13Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một cột trụ đâm sâu vào đất, khéo đóng, không bị dao động, không bị lay chuyển để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Với lòng tin làm cột trụ, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ nhất này, vị ấy được thành tựu.
TTC 14Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường thông hào, vừa sâu và rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng xấu hổ. Vị ấy xấu hổ vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy xấu hổ vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy xấu hổ làm con đường thông hào, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ hai này, vị ấy được thành tựu.
TTC 15Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường đi vòng chung quanh, vừa cao vừa rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy sợ hãi vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy sợ hãi làm con đường đi vòng xung quanh, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ ba này, vị ấy được thành tựu.
TTC 16Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều vũ khí được cất chứa, như cung tên và cây lao để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử là người nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, cất chứa điều đã được nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Các pháp như vậy được nghe nhiều, được thọ trì, được đọc cho thành thục, được ý khéo tùy quán, được khéo thể nhập với tri kiến. Lấy nghe nhiều làm vũ khí, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ tư này, vị ấy được thành tựu.
TTC 17Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều quân đội đồn trú, như những người cưỡi voi, những người cưỡi ngựa, những người cưỡi xe, những người cầm cung, những người cầm cờ, những quan lo chỗ ở, các lính lo vấn đề lương thực, những người con vua dõng mãnh, những bộ đội xung kích, đội voi lớn, các dũng sĩ, các binh sĩ mặc áo giáp, những con của nô tỳ, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Lấy tinh tấn làm quân đội, này các Tỷ-kheo, vị thiện nam tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ năm này, vị ấy được thành tựu.
TTC 18Ví như, này các Tỷ kheo, trong thành trì biên địa của vua có người giữ cửa thành là người hiền trí, thông minh, có trí, ngăn chặn những người lạ mặt, cho vào những người quen biết để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống có chánh niệm thành tựu tối thắng niệm tuệ, nhớ đến và tùy niệm việc làm đã lâu ngày, lời nói đã lâu ngày. Với niệm làm người giữ cửa thành, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện pháp từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ sáu này, vị ấy được thành tựu.
TTC 19Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có bức thành vừa cao vừa rộng, ngoài mặt trét vôi hồ để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử là người có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự Thánh thể nhập vào con đường đưa đến đoạn tận khổ đau. Với trí tuệ làm lớp vôi hồ trét bên ngoài, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ bảy này, vị ấy được thành tựu.
Với bảy diệu pháp này, vị ấy thành tựu. Thế nào là bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức?
TTC 20Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều cỏ, củi, nước được tích trữ để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ để tự mình được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 21Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều lúa và lúa mì để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm để tự mình được an vui, không phải lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 22Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều mè, đậu, các loại giả đậu và ngũ cốc để những người trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba để tự mình được an vui, không phải lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 23Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều dược phẩm được cất chứa ví như thục tô, dầu, mật, đường bánh, muối để những người trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do đoạn lạc, do đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, để tự mình được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
Bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử thành tựu bảy diệu pháp này và bốn Thiền này, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đệ tử không bị ma chinh phục, không bị ác chinh phục.
“Yato kho, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti, catunnañca āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ akaraṇīyaṁ bāhirehi paccatthikehi paccāmittehi.
Katamehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti?
Idha, bhikkhave, rañño paccantime nagare esikā hoti gambhīranemā sunikhātā acalā asampavedhī.
Iminā paṭhamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare parikkhā hoti gambhīrā ceva vitthatā ca.
Iminā dutiyena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare anupariyāyapatho hoti ucco ceva vitthato ca.
Iminā tatiyena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ āvudhaṁ sannicitaṁ hoti salākañceva jevanikañca.
Iminā catutthena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahubalakāyo paṭivasati, seyyathidaṁ—
hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsakaputtā.
Iminā pañcamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare dovāriko hoti paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā.
Iminā chaṭṭhena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare pākāro hoti ucco ceva vitthato ca vāsanalepanasampanno ca.
Iminā sattamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Imehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti.
Katamesaṁ catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī?
Idha, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tiṇakaṭṭhodakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ sāliyavakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tilamuggamāsāparaṇṇaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ bhesajjaṁ sannicitaṁ hoti, seyyathidaṁ—
sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ loṇaṁ abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Imesaṁ kho, bhikkhave, catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Yato kho, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ imehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti, imesañca catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ akaraṇīyaṁ bāhirehi paccatthikehi paccāmittehi.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yato ariyasāvako sattahi saddhammehi samannāgato hoti, catunnañca jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako akaraṇīyo mārassa akaraṇīyo pāpimato.
Katamehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti?
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare esikā hoti gambhīranemā sunikhātā acalā asampavedhī abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ
‘itipi so …pe… buddho bhagavā’ti.
Saddhesiko, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā paṭhamena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare parikkhā hoti gambhīrā ceva vitthatā ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako hirīmā hoti, hirīyati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, hirīyati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā.
Hirīparikkho kho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā dutiyena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare anupariyāyapatho hoti ucco ceva vitthato ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ, kho, bhikkhave, ariyasāvako ottappī hoti, ottappati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, ottappati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā.
Ottappapariyāyapatho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā tatiyena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ āvudhaṁ sannicitaṁ hoti salākañceva jevanikañca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
Sutāvudho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā catutthena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahubalakāyo paṭivasati, seyyathidaṁ—
hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsakaputtā abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Vīriyabalakāyo, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā pañcamena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare dovāriko hoti paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
Satidovāriko, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā chaṭṭhena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare pākāro hoti ucco ceva vitthato ca vāsanalepanasampanno ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Paññāvāsanalepanasampanno, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā sattamena saddhammena samannāgato hoti.
Imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti.
Katamesaṁ catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī?
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tiṇakaṭṭhodakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ sāliyavakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tilamuggamāsāparaṇṇaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ bhesajjaṁ sannicitaṁ hoti, seyyathidaṁ—
sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ loṇaṁ abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Imesaṁ catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako akaraṇīyo mārassa akaraṇīyo pāpimato”ti.
Tatiyaṁ.
“Monks, when a royal frontier fortress is well provided with the seven requisites of a fortress, and can obtain at will—without difficulty, without trouble—the four types of food, then it is said to be a royal frontier fortress that can’t be undone by external foes or duplicitous allies.
“And with which seven requisites of a fortress is it well provided?
“There is the case where a royal frontier fortress has a foundation post—deeply rooted, well embedded, immovable, & unshakable. With this first requisite of a fortress it is well provided for the protection of those within and to ward off those without.
“Furthermore, the royal frontier fortress has a moat, both deep & wide. With this second requisite of a fortress it is well provided for the protection of those within and to ward off those without.
“Furthermore, the royal frontier fortress has an encircling road, both high & wide. With this third requisite of a fortress it is well provided for the protection of those within and to ward off those without.
“Furthermore, in the royal frontier fortress many weapons are stored, both arrows & things to be hurled. With this fourth requisite of a fortress it is well provided for the protection of those within and to ward off those without.
“Furthermore, the royal frontier fortress has a large army stationed within—elephant soldiers, cavalry, charioteers, bowmen, standard-bearers, billeting officers, soldiers of the supply corps, noted princes, commando heroes, infantry, & slaves. With this fifth requisite of a fortress it is well provided for the protection of those within and to ward off those without.
“Furthermore, the royal frontier fortress has a gate-keeper—wise, experienced, intelligent—to keep out those he doesn’t know and to let in those he does. With this sixth requisite of a fortress it is well provided for the protection of those within and to ward off those without.
“Furthermore, the royal frontier fortress has ramparts: high & thick & completely covered with plaster. With this seventh requisite of a fortress it is well provided for the protection of those within and to ward off those without.
“These are the seven requisites of a fortress with which it is well provided.
“And which are the four types of food that it can obtain at will, without difficulty, without trouble?
“There is the case where the royal frontier fortress has large stores of grass, timber & water for the delight, convenience, & comfort of those within, and to ward off those without. Furthermore, it has large stores of rice & barley for the delight, convenience, & comfort of those within, and to ward off those without. Furthermore, it has large stores of sesame, green gram, & other beans for the delight, convenience, & comfort of those within, and to ward off those without. Furthermore, it has large stores of tonics—ghee, fresh butter, oil, honey, molasses, & salt—for the delight, convenience, & comfort of those within, and to ward off those without. These are the four types of food it can obtain at will, without difficulty, without trouble.
“When a royal frontier fortress is well provided with these seven requisites of a fortress, and can obtain at will—without difficulty, without trouble—these four types of food, then it is said to be a royal frontier fortress that can’t be undone by external foes or duplicitous allies.
“In the same way, monks, when a disciple of the noble ones is endowed with seven true qualities (saddhamma) and can obtain at will—without difficulty, without trouble—the four jhanas, heightened mental states that provide a pleasant abiding in the here-&-now, he is said to be a disciple of the noble ones who can’t be undone by Mara, can’t be undone by the Evil One.
“Now, with which seven true qualities is he endowed?
“Just as the royal frontier fortress has a foundation post—deeply rooted, well embedded, immovable, & unshakable—for the protection of those within and to ward off those without; in the same way a disciple of the noble ones has conviction, is convinced of the Tathagata’s Awakening: ‘Indeed, the Blessed One is worthy and rightly self-awakened, consummate in knowledge & conduct, well-gone, a knower of the cosmos, an unexcelled trainer of those persons ready to be tamed, teacher of human & divine beings, awakened, blessed.’ With conviction as his foundation post, the disciple of the noble ones abandons what is unskillful, develops what is skillful, abandons what is blameworthy, develops what is blameless, and looks after himself with purity. With this first true quality is he endowed.
“Just as the royal frontier fortress has a moat, both deep & wide, for the protection of those within and to ward off those without; in the same way, the disciple of the noble ones has a sense of shame. He feels shame at [the thought of engaging in] bodily misconduct, verbal misconduct, mental misconduct. He feels shame at falling into evil, unskillful actions. With shame as his moat, the disciple of the noble ones abandons what is unskillful, develops what is skillful, abandons what is blameworthy, develops what is blameless, and looks after himself with purity. With this second true quality is he endowed.
“Just as the royal frontier fortress has an encircling road, both high & wide, for the protection of those within and to ward off those without; in the same way, the disciple of the noble ones has a sense of concern. He feels concern for [the suffering that results from] bodily misconduct, verbal misconduct, mental misconduct. He feels concern at falling into evil, unskillful actions. With concern as his encircling road, the disciple of the noble ones abandons what is unskillful, develops what is skillful, abandons what is blameworthy, develops what is blameless, and looks after himself with purity. With this third true quality is he endowed.
“Just as the royal frontier fortress has many weapons stored, both arrows & things to be hurled, for the protection of those within and to ward off those without; in the same way, the disciple of the noble ones has heard much, has retained what he has heard, has stored what he has heard. Whatever teachings are admirable in the beginning, admirable in the middle, admirable in the end, that—in their meaning & expression—proclaim the holy life that is entirely complete & pure: those he has listened to often, retained, discussed, accumulated, examined with his mind, and well-penetrated in terms of his views. With learning as his weapons, the disciple of the noble ones abandons what is unskillful, develops what is skillful, abandons what is blameworthy, develops what is blameless, and looks after himself with purity. With this fourth true quality is he endowed.
“Just as the royal frontier fortress has a large army stationed within—elephant soldiers, cavalry, charioteers, bowmen, standard-bearers, billeting officers, soldiers of the supply corps, noted princes, commando heroes, infantry, & slaves—for the protection of those within and to ward off those without; in the same way a disciple of the noble ones keeps his persistence aroused for abandoning unskillful mental qualities and taking on skillful mental qualities, is steadfast, solid in his effort, not shirking his duties with regard to skillful mental qualities. With persistence as his army, the disciple of the noble ones abandons what is unskillful, develops what is skillful, abandons what is blameworthy, develops what is blameless, and looks after himself with purity. With this fifth true quality is he endowed.
“Just as the royal frontier fortress has a gate-keeper—wise, experienced, intelligent—to keep out those he doesn’t know and to let in those he does, for the protection of those within and to ward off those without; in the same way a disciple of the noble ones is mindful, highly meticulous, remembering & able to call to mind even things that were done & said long ago. With mindfulness as his gate-keeper, the disciple of the noble ones abandons what is unskillful, develops what is skillful, abandons what is blameworthy, develops what is blameless, and looks after himself with purity. With this sixth true quality is he endowed.
“Just as the royal frontier fortress has ramparts—high & thick & completely covered with plaster—for the protection of those within and to ward off those without; in the same way a disciple of the noble ones is discerning, endowed with discernment of arising and passing away—noble, penetrating, leading to the right ending of stress. With discernment as his covering of plaster, the disciple of the noble ones abandons what is unskillful, develops what is skillful, abandons what is blameworthy, develops what is blameless, and looks after himself with purity. With this seventh true quality is he endowed.
“These are the seven true qualities with which he is endowed.
“And which are the four jhanas—heightened mental states that provide a pleasant abiding in the here-&-now—that he can obtain at will, without difficulty, without trouble?
Just as a royal frontier fortress has large stores of grass, timber & water for the delight, convenience, & comfort of those within, and to ward off those without; in the same way the disciple of the noble ones, quite withdrawn from sensual pleasures, withdrawn from unskillful qualities, enters & remains in the first jhana—rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation—for his own delight, convenience, & comfort, and to alight on Unbinding.
Just as a royal frontier fortress has large stores of rice & barley for the delight, convenience, & comfort of those within, and to ward off those without; in the same way the disciple of the noble ones, with the stilling of directed thoughts & evaluations, enters & remains in the second jhana—rapture & pleasure born of composure, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance—for his own delight, convenience, & comfort, and to alight on Unbinding.
Just as a royal frontier fortress has large stores of sesame, green gram, & other beans for the delight, convenience, & comfort of those within, and to ward off those without; in the same way the disciple of the noble ones, with the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters & remains in the third jhana, of which the Noble Ones declare, ‘Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding,’ for his own delight, convenience, & comfort, and to alight on Unbinding.
Just as a royal frontier fortress has large stores of tonics—ghee, fresh butter, oil, honey, molasses, & salt—for the delight, convenience, & comfort of those within, and to ward off those without; in the same way the disciple of the noble ones, with the abandoning of pleasure & stress, as with the earlier disappearance of elation & distress, enters & remains in the fourth jhana—purity of equanimity & mindfulness, neither-pleasure-nor-pain—for his own delight, convenience, & comfort, and to alight on Unbinding.
“These are the four jhanas—heightened mental states that provide a pleasant abiding in the here-&-now—that he can obtain at will, without difficulty, without trouble.
“When a disciple of the noble ones is endowed with these seven true qualities and can obtain at will—without difficulty, without trouble—these four jhanas, heightened mental states that provide a pleasant abiding in the here-&-now, he is said to be a disciple of the noble ones who can’t be undone by Mara, can’t be undone by the Evil One.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, khi nào một thành trì biên địa của vua được khéo trang bị với bảy trang bị của một thành trì, và bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc; có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, thành trì biên địa ấy được gọi là không bị chinh phục bởi quân địch ở bên ngoài và kẻ đồng minh phản nghịch ở bên trong. Thế nào là được khéo trang bị với bảy trang bị của một thành trì?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một cột trụ đâm sâu vào đất, khéo đào sâu, không bị dao động, không bị lay chuyển. Với trang bị thành trì thứ nhất này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 3Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một đường thông hào sâu và rộng. Với trang bị thành trì thứ hai này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 4Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một đường chạy vòng xung quanh vừa cao và vừa rộng. Với trang bị thành trì thứ ba này của một thành trì, là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 5Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều vũ khí được cất chứa như Salàkam (cung tên) và Jevanìyam (cây lao) với trang bị thành trì thứ tư này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 6Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều quân đội đồn trú, như những người cưỡi voi, những người cưỡi ngựa, những người cưỡi xe, những người cầm cung, những người cầm cờ, các quan lo chỗ ở, các lính lo vấn đề lương thực, những người con vua dõng mãnh, những bộ đội xung kích, đội voi lớn, các dũng sĩ, các binh sĩ mặc áo giáp, những người con của các nô tỳ. Với trang bị thành trì thứ năm này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 7Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua, có người giữ cửa thành là người hiền trí, thông minh, có trí, ngăn chặn những người lạ mặt, cho vào những người quen biết. Với sự trang bị thành trì thứ sáu này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 8Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có bức thành vừa cao vừa rộng, ngoài mặt có trét vôi hồ. Với sự trang bị thành trì thứ bảy này là thành trì biên địa của vua được khéo trang bị, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài.
Với bảy loại trang bị thành trì này, thành trì được xem là được khéo trang bị. Thế nào là bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức?
TTC 9Ở đây, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều cỏ, củi, nước được tích trữ để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 10Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều lúa và lùa mì để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài.
TTC 11Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều mè, đậu, các loại giả đậu và ngũ cốc để những người ở trong thành… để chống cự những người bên ngoài.
TTC 12Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều dược phẩm, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, muối để những người ở trong thành… để chống cự những người bên ngoài.
Bốn loại đồ ăn này, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Khi nào, này các Tỷ-kheo, một thành trì biên địa của vua, được khéo trang bị với bảy món trang bị này của một thành trì và bốn loại đồ ăn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, thành trì biên địa ấy được gọi là không bị chinh phục bởi quân địch ở bên ngoài và kẻ đồng minh phản nghịch ở bên trong. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử thành tựu với bảy diệu pháp và bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, thời này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử này được gọi là không bị Ma chinh phục, không bị ác chinh phục. Vị ấy thành tựu bảy pháp gì?
TTC 13Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một cột trụ đâm sâu vào đất, khéo đóng, không bị dao động, không bị lay chuyển để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn”. Với lòng tin làm cột trụ, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ nhất này, vị ấy được thành tựu.
TTC 14Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường thông hào, vừa sâu và rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng xấu hổ. Vị ấy xấu hổ vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy xấu hổ vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy xấu hổ làm con đường thông hào, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ hai này, vị ấy được thành tựu.
TTC 15Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có một con đường đi vòng chung quanh, vừa cao vừa rộng để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi vì thân làm ác, vì miệng nói ác, vì ý nghĩ ác. Vị ấy sợ hãi vì bị rơi vào các ác, bất thiện pháp. Lấy sợ hãi làm con đường đi vòng xung quanh, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ ba này, vị ấy được thành tựu.
TTC 16Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều vũ khí được cất chứa, như cung tên và cây lao để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử là người nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, cất chứa điều đã được nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Các pháp như vậy được nghe nhiều, được thọ trì, được đọc cho thành thục, được ý khéo tùy quán, được khéo thể nhập với tri kiến. Lấy nghe nhiều làm vũ khí, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ tư này, vị ấy được thành tựu.
TTC 17Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều quân đội đồn trú, như những người cưỡi voi, những người cưỡi ngựa, những người cưỡi xe, những người cầm cung, những người cầm cờ, những quan lo chỗ ở, các lính lo vấn đề lương thực, những người con vua dõng mãnh, những bộ đội xung kích, đội voi lớn, các dũng sĩ, các binh sĩ mặc áo giáp, những con của nô tỳ, để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để đầy đủ các pháp thiện, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Lấy tinh tấn làm quân đội, này các Tỷ-kheo, vị thiện nam tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ năm này, vị ấy được thành tựu.
TTC 18Ví như, này các Tỷ kheo, trong thành trì biên địa của vua có người giữ cửa thành là người hiền trí, thông minh, có trí, ngăn chặn những người lạ mặt, cho vào những người quen biết để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống có chánh niệm thành tựu tối thắng niệm tuệ, nhớ đến và tùy niệm việc làm đã lâu ngày, lời nói đã lâu ngày. Với niệm làm người giữ cửa thành, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện pháp từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ sáu này, vị ấy được thành tựu.
TTC 19Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có bức thành vừa cao vừa rộng, ngoài mặt trét vôi hồ để bảo vệ những người ở trong thành và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử là người có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự Thánh thể nhập vào con đường đưa đến đoạn tận khổ đau. Với trí tuệ làm lớp vôi hồ trét bên ngoài, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ tự thân thanh tịnh. Với diệu pháp thứ bảy này, vị ấy được thành tựu.
Với bảy diệu pháp này, vị ấy thành tựu. Thế nào là bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức?
TTC 20Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều cỏ, củi, nước được tích trữ để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử ly dục, ly pháp bất thiện, chứng đạt và an trú sơ Thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ để tự mình được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 21Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều lúa và lúa mì để những người ở trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do tịnh chỉ tầm và tứ, chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm để tự mình được an vui, không phải lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 22Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có cất chứa nhiều mè, đậu, các loại giả đậu và ngũ cốc để những người trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng đạt và an trú Thiền thứ ba để tự mình được an vui, không phải lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
TTC 23Ví như, này các Tỷ-kheo, trong thành trì biên địa của vua có nhiều dược phẩm được cất chứa ví như thục tô, dầu, mật, đường bánh, muối để những người trong thành được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để chống cự những người bên ngoài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử, do đoạn lạc, do đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh, để tự mình được an vui, khỏi sự lo ngại, được lạc trú và để bước vào Niết-bàn.
Bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Này các Tỷ-kheo, khi nào Thánh đệ tử thành tựu bảy diệu pháp này và bốn Thiền này, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Thánh đệ tử không bị ma chinh phục, không bị ác chinh phục.
“Yato kho, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti, catunnañca āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ akaraṇīyaṁ bāhirehi paccatthikehi paccāmittehi.
Katamehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti?
Idha, bhikkhave, rañño paccantime nagare esikā hoti gambhīranemā sunikhātā acalā asampavedhī.
Iminā paṭhamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare parikkhā hoti gambhīrā ceva vitthatā ca.
Iminā dutiyena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare anupariyāyapatho hoti ucco ceva vitthato ca.
Iminā tatiyena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ āvudhaṁ sannicitaṁ hoti salākañceva jevanikañca.
Iminā catutthena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahubalakāyo paṭivasati, seyyathidaṁ—
hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsakaputtā.
Iminā pañcamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare dovāriko hoti paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā.
Iminā chaṭṭhena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare pākāro hoti ucco ceva vitthato ca vāsanalepanasampanno ca.
Iminā sattamena nagaraparikkhārena suparikkhataṁ hoti rañño paccantimaṁ nagaraṁ abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Imehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti.
Katamesaṁ catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī?
Idha, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tiṇakaṭṭhodakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ sāliyavakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tilamuggamāsāparaṇṇaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Puna caparaṁ, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ bhesajjaṁ sannicitaṁ hoti, seyyathidaṁ—
sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ loṇaṁ abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Imesaṁ kho, bhikkhave, catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Yato kho, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ imehi sattahi nagaraparikkhārehi suparikkhataṁ hoti, imesañca catunnaṁ āhārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, rañño paccantimaṁ nagaraṁ akaraṇīyaṁ bāhirehi paccatthikehi paccāmittehi.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, yato ariyasāvako sattahi saddhammehi samannāgato hoti, catunnañca jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako akaraṇīyo mārassa akaraṇīyo pāpimato.
Katamehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti?
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare esikā hoti gambhīranemā sunikhātā acalā asampavedhī abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ
‘itipi so …pe… buddho bhagavā’ti.
Saddhesiko, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā paṭhamena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare parikkhā hoti gambhīrā ceva vitthatā ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako hirīmā hoti, hirīyati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, hirīyati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā.
Hirīparikkho kho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā dutiyena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare anupariyāyapatho hoti ucco ceva vitthato ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ, kho, bhikkhave, ariyasāvako ottappī hoti, ottappati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, ottappati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā.
Ottappapariyāyapatho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā tatiyena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ āvudhaṁ sannicitaṁ hoti salākañceva jevanikañca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako bahussuto hoti …pe… diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
Sutāvudho, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā catutthena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahubalakāyo paṭivasati, seyyathidaṁ—
hatthārohā assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsakaputtā abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Vīriyabalakāyo, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā pañcamena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare dovāriko hoti paṇḍito byatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
Satidovāriko, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā chaṭṭhena saddhammena samannāgato hoti.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare pākāro hoti ucco ceva vitthato ca vāsanalepanasampanno ca abbhantarānaṁ guttiyā bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Paññāvāsanalepanasampanno, bhikkhave, ariyasāvako akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti;
sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti;
suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Iminā sattamena saddhammena samannāgato hoti.
Imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti.
Katamesaṁ catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī?
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tiṇakaṭṭhodakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ sāliyavakaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ tilamuggamāsāparaṇṇaṁ sannicitaṁ hoti abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Seyyathāpi, bhikkhave, rañño paccantime nagare bahuṁ bhesajjaṁ sannicitaṁ hoti, seyyathidaṁ—
sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ loṇaṁ abbhantarānaṁ ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya bāhirānaṁ paṭighātāya.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, ariyasāvako sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
attano ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Imesaṁ catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Yato kho, bhikkhave, ariyasāvako imehi sattahi saddhammehi samannāgato hoti, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyasāvako akaraṇīyo mārassa akaraṇīyo pāpimato”ti.
Tatiyaṁ.