—Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Có hạng người này, này các Tỷ-kheo, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, nên thân cận gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính, tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thấp kém về giới, định, tuệ. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường, trừ khi vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đồng đẳng với mình về giới, định, tuệ. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Với ý nghĩ: “(Cả hai) thiện xảo về giới, câu chuyện của chúng ta sẽ thuộc về giới, được diễn tiến (lợi ích) cho cả hai chúng ta, và sẽ làm cho hai chúng ta được an lạc. (Cả hai) là thiện xảo về định …… (Cả hai) là thiện xảo về tuệ, câu chuyện của chúng ta sẽ thuộc về tuệ, được diễn tiến (lợi ích) cho cả hai, và chúng sẽ làm cho hai chúng ta an lạc”. Cho nên, người như vậy nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.
Thế nào là hạng người, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính, tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thù thắng về giới, định và tuệ. Hạng người ấy, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính, tôn trọng, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Với ý nghĩ: “Như vậy, nếu giới chưa đầy đủ, ta sẽ làm đầy đủ, hay nếu giới được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Hay nếu định chưa đầy đủ, ta sẽ làm cho đầy đủ, hay nếu định được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Hay nếu tuệ chưa đầy đủ, ta sẽ làm đầy đủ, hay nếu tuệ được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Cho nên, với hạng người này, sau khi cung kính tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.
Người gần kẻ hạ liệt
Rồi cũng bị hạ liệt
Thân cận người đồng đẳng
Ðược khỏi bị thối đọa
Ai gần bậc thù thắng
Mau chóng được thăng tiến
Do vậy hãy sống chung
Bậc ưu thắng hơn mình
“Tayome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Atthi, bhikkhave, puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo.
Atthi, bhikkhave, puggalo sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Atthi, bhikkhave, puggalo sakkatvā garuṁ katvā sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo hīno hoti sīlena samādhinā paññāya.
Evarūpo, bhikkhave, puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo aññatra anuddayā aññatra anukampā.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo sadiso hoti sīlena samādhinā paññāya.
Evarūpo, bhikkhave, puggalo sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Taṁ kissa hetu?
Sīlasāmaññagatānaṁ sataṁ sīlakathā ca no bhavissati, sā ca no pavattinī bhavissati, sā ca no phāsu bhavissati.
Samādhisāmaññagatānaṁ sataṁ samādhikathā ca no bhavissati, sā ca no pavattinī bhavissati, sā ca no phāsu bhavissati.
Paññāsāmaññagatānaṁ sataṁ paññākathā ca no bhavissati, sā ca no pavattinī bhavissati, sā ca no phāsu bhavissatīti.
Tasmā evarūpo puggalo sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo sakkatvā garuṁ katvā sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo adhiko hoti sīlena samādhinā paññāya.
Evarūpo, bhikkhave, puggalo sakkatvā garuṁ katvā sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Taṁ kissa hetu?
Iti aparipūraṁ vā sīlakkhandhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā sīlakkhandhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmi;
aparipūraṁ vā samādhikkhandhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā samādhikkhandhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmi;
aparipūraṁ vā paññākkhandhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā paññākkhandhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmīti.
Tasmā evarūpo puggalo sakkatvā garuṁ katvā sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā lokasminti.
Nihīyati puriso nihīnasevī,
Na ca hāyetha kadāci tulyasevī;
Seṭṭhamupanamaṁ udeti khippaṁ,
Tasmā attano uttariṁ bhajethā”ti.
Chaṭṭhaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these three kinds of persons found existing in the world. What three? (1) There is a person who is not to be associated with, followed, and served; (2) a person who is to be associated with, followed, and served; and (3) an.i.125 a person who is to be associated with, followed, and served with honor and respect.
SC 2(1) “And what kind of person, bhikkhus, is not to be associated with, followed, and served? Here, some person is inferior to oneself in virtuous behavior, concentration, and wisdom. Such a person is not to be associated with, followed, and served except out of sympathy and compassion.
SC 3(2) “And what kind of person is to be associated with, followed, and served? Here, some person is similar to oneself in virtuous behavior, concentration, and wisdom. Such a person is to be associated with, followed, and served. For what reason? Because one considers: ‘Since we are similar with regard to virtuous behavior, we will have a discussion on virtuous behavior, and it will flow on smoothly between us, and we will feel at ease. Since we are similar with regard to concentration, we will have a discussion on concentration, and it will flow on smoothly between us, and we will feel at ease. Since we are similar with regard to wisdom, we will have a discussion on wisdom, and it will flow on smoothly between us, and we will feel at ease.’ Therefore such a person is to be associated with, followed, and served.
SC 4(3) “And what kind of person is to be associated with, followed, and served with honor and respect? Here, some person is superior to oneself in virtuous behavior, concentration, and wisdom. Such a person is to be associated with, followed, and served with honor and respect. For what reason? Because one considers: ‘In such a way I will fulfill the aggregate of virtuous behavior that I have not yet fulfilled or assist with wisdom in various respects the aggregate of virtuous behavior that I have fulfilled. I will fulfill the aggregate of concentration that I have not yet fulfilled or assist with wisdom in various respects the aggregate of concentration that I have fulfilled. I will fulfill the aggregate of wisdom that I have not yet fulfilled or assist with wisdom in various respects the aggregate of wisdom that I have fulfilled.’ Therefore such a person is to be associated with, followed, and served with honor and respect.
SC 5“These, bhikkhus, are the three kinds of persons found existing in the world.” an.i.126
SC 6One who associates with an inferior person declines;
one who associates with an equal does not decline;
attending on a superior person one develops quickly;
therefore you should follow one superior to yourself.
—Có ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Có hạng người này, này các Tỷ-kheo, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, nên thân cận gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường. Có hạng người, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính, tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thấp kém về giới, định, tuệ. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, không nên gần gũi, không nên sống chung, không nên hầu hạ cúng dường, trừ khi vì lòng thương tưởng, vì lòng từ mẫn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đồng đẳng với mình về giới, định, tuệ. Hạng người như vậy, này các Tỷ-kheo, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Với ý nghĩ: “(Cả hai) thiện xảo về giới, câu chuyện của chúng ta sẽ thuộc về giới, được diễn tiến (lợi ích) cho cả hai chúng ta, và sẽ làm cho hai chúng ta được an lạc. (Cả hai) là thiện xảo về định …… (Cả hai) là thiện xảo về tuệ, câu chuyện của chúng ta sẽ thuộc về tuệ, được diễn tiến (lợi ích) cho cả hai, và chúng sẽ làm cho hai chúng ta an lạc”. Cho nên, người như vậy nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.
Thế nào là hạng người, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính, tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thù thắng về giới, định và tuệ. Hạng người ấy, này các Tỷ-kheo, sau khi cung kính, tôn trọng, cần phải gần gũi, cần phải sống chung, cần phải hầu hạ cúng dường. Vì cớ sao? Với ý nghĩ: “Như vậy, nếu giới chưa đầy đủ, ta sẽ làm đầy đủ, hay nếu giới được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Hay nếu định chưa đầy đủ, ta sẽ làm cho đầy đủ, hay nếu định được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ. Hay nếu tuệ chưa đầy đủ, ta sẽ làm đầy đủ, hay nếu tuệ được đầy đủ, ta sẽ hỗ trợ thêm cho chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Cho nên, với hạng người này, sau khi cung kính tôn trọng, nên gần gũi, nên sống chung, nên hầu hạ cúng dường.
Ba hạng người này, này các Tỷ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời.
Người gần kẻ hạ liệt
Rồi cũng bị hạ liệt
Thân cận người đồng đẳng
Ðược khỏi bị thối đọa
Ai gần bậc thù thắng
Mau chóng được thăng tiến
Do vậy hãy sống chung
Bậc ưu thắng hơn mình
“Tayome, bhikkhave, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Atthi, bhikkhave, puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo.
Atthi, bhikkhave, puggalo sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Atthi, bhikkhave, puggalo sakkatvā garuṁ katvā sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo hīno hoti sīlena samādhinā paññāya.
Evarūpo, bhikkhave, puggalo na sevitabbo na bhajitabbo na payirupāsitabbo aññatra anuddayā aññatra anukampā.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo sadiso hoti sīlena samādhinā paññāya.
Evarūpo, bhikkhave, puggalo sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Taṁ kissa hetu?
Sīlasāmaññagatānaṁ sataṁ sīlakathā ca no bhavissati, sā ca no pavattinī bhavissati, sā ca no phāsu bhavissati.
Samādhisāmaññagatānaṁ sataṁ samādhikathā ca no bhavissati, sā ca no pavattinī bhavissati, sā ca no phāsu bhavissati.
Paññāsāmaññagatānaṁ sataṁ paññākathā ca no bhavissati, sā ca no pavattinī bhavissati, sā ca no phāsu bhavissatīti.
Tasmā evarūpo puggalo sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Katamo ca, bhikkhave, puggalo sakkatvā garuṁ katvā sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo?
Idha, bhikkhave, ekacco puggalo adhiko hoti sīlena samādhinā paññāya.
Evarūpo, bhikkhave, puggalo sakkatvā garuṁ katvā sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Taṁ kissa hetu?
Iti aparipūraṁ vā sīlakkhandhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā sīlakkhandhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmi;
aparipūraṁ vā samādhikkhandhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā samādhikkhandhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmi;
aparipūraṁ vā paññākkhandhaṁ paripūressāmi, paripūraṁ vā paññākkhandhaṁ tattha tattha paññāya anuggahessāmīti.
Tasmā evarūpo puggalo sakkatvā garuṁ katvā sevitabbo bhajitabbo payirupāsitabbo.
Ime kho, bhikkhave, tayo puggalā santo saṁvijjamānā lokasminti.
Nihīyati puriso nihīnasevī,
Na ca hāyetha kadāci tulyasevī;
Seṭṭhamupanamaṁ udeti khippaṁ,
Tasmā attano uttariṁ bhajethā”ti.
Chaṭṭhaṁ.