TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ngôi nhà có nóc nhọn, rồi nam cư sĩ Vàsettha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nam cư sĩ đang ngồi một bên: … (Ðức Phật nói lại như kinh 4,2 kể cả bài kệ, với những thay đổi cần thiết) …
TTC 2Khi được nói như vậy, nam cư sĩ Vàsettha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, nếu người bà con huyết thống thân mến của con thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần này, như vậy, các bà con huyết thống thân mến của con được hạnh phúc an lạc lâu dài. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả các Sát-đế-lỵ thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, tất cả các được hạnh phúc an lạc lâu dài. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả Bà-la-môn … các Phệ-Xá … các Thủ-đà thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Thủ-đà được hạnh phúc an lạc lâu dài.
TTC 3—Như vậy là phải, này Vàsettha! Này Vàsettha, nếu tất cả các Sát-đế-lỵ thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Sát Ðế Lỵ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu tất cả Bà-la-môn … các Phệ-Xá … các Thủ-đà thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Thủ-đà sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu thế giới chư Thiên, với các ác ma, các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, như vậy, thế giới chư Thiên, các ác ma, các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu các cây sàlà lớn này có thể thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài, nếu chúng có tư duy, nói gì đến loài người.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho vāseṭṭho upāsako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho vāseṭṭhaṁ upāsakaṁ bhagavā etadavoca:
“aṭṭhaṅgasamannāgato, vāseṭṭha, uposatho upavuttho mahapphalo hoti …pe…
aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Evaṁ vutte, vāseṭṭho upāsako bhagavantaṁ etadavoca:
“piyā me, bhante, ñātisālohitā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, piyānampi me assa ñātisālohitānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Sabbe cepi, bhante, khattiyā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, bhante, brāhmaṇā …pe… vessā … suddā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evametaṁ, vāseṭṭha, evametaṁ, vāseṭṭha.
Sabbe cepi, vāseṭṭha, khattiyā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, vāseṭṭha, brāhmaṇā …pe… vessā … suddā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Sadevako cepi, vāseṭṭha, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sadevakassapissa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Ime cepi, vāseṭṭha, mahāsālā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, imesampissa mahāsālānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya (…).
Ko pana vādo manussabhūtassā”ti.
Catutthaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Vesālī in the hall with the peaked roof in the Great Wood. Then the male lay follower Vāseṭṭha approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One then said to him:
SC 2“Vāseṭṭha, observed complete in eight factors, the uposatha is of great fruit and benefit, extraordinarily brilliant and pervasive. And how is the uposatha observed complete in eight factors, so that it is of great fruit and benefit, extraordinarily brilliant and pervasive?”
All as in 8:42, including the verses.
SC 3When this was said, the male lay follower Vāseṭṭha said to the Blessed One: an.iv.259 “Bhante, if my beloved relatives and family members would observe the uposatha complete in eight factors, that would lead to their welfare and happiness for a long time. If all khattiyas would observe the uposatha complete in eight factors, that would lead to their welfare and happiness for a long time. If all brahmins … vessas … suddas would observe the uposatha complete in eight factors, that would lead to their welfare and happiness for a long time.”
SC 4“So it is, Vāseṭṭha, so it is! If all khattiyas would observe the uposatha complete in eight factors, that would lead to their welfare and happiness for a long time. If all brahmins … vessas … suddas would observe the uposatha complete in eight factors, that would lead to their welfare and happiness for a long time. If the world with its devas, Māra, and Brahmā, this population with its ascetics and brahmins, its devas and humans, would observe the uposatha complete in eight factors, that would lead to the welfare and happiness of the world for a long time. If these great sal trees would observe the uposatha complete in eight factors, that would lead to the welfare and happiness of these great sal trees for a long time, if they could choose. How much more then for a human being!”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ngôi nhà có nóc nhọn, rồi nam cư sĩ Vàsettha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với nam cư sĩ đang ngồi một bên: … (Ðức Phật nói lại như kinh 4,2 kể cả bài kệ, với những thay đổi cần thiết) …
TTC 2Khi được nói như vậy, nam cư sĩ Vàsettha bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, nếu người bà con huyết thống thân mến của con thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần này, như vậy, các bà con huyết thống thân mến của con được hạnh phúc an lạc lâu dài. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả các Sát-đế-lỵ thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, tất cả các được hạnh phúc an lạc lâu dài. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả Bà-la-môn … các Phệ-Xá … các Thủ-đà thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Thủ-đà được hạnh phúc an lạc lâu dài.
TTC 3—Như vậy là phải, này Vàsettha! Này Vàsettha, nếu tất cả các Sát-đế-lỵ thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Sát Ðế Lỵ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu tất cả Bà-la-môn … các Phệ-Xá … các Thủ-đà thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, tất cả các Thủ-đà sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu thế giới chư Thiên, với các ác ma, các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn thực hành ngày trai giới, với đầy đủ tám chi phần, như vậy, thế giới chư Thiên, các ác ma, các Phạm thiên, hay quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Này Vàsettha, nếu các cây sàlà lớn này có thể thực hành ngày trai giới với đầy đủ tám chi phần, sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài, nếu chúng có tư duy, nói gì đến loài người.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Atha kho vāseṭṭho upāsako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho vāseṭṭhaṁ upāsakaṁ bhagavā etadavoca:
“aṭṭhaṅgasamannāgato, vāseṭṭha, uposatho upavuttho mahapphalo hoti …pe…
aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Evaṁ vutte, vāseṭṭho upāsako bhagavantaṁ etadavoca:
“piyā me, bhante, ñātisālohitā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, piyānampi me assa ñātisālohitānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Sabbe cepi, bhante, khattiyā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, bhante, brāhmaṇā …pe… vessā … suddā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
“Evametaṁ, vāseṭṭha, evametaṁ, vāseṭṭha.
Sabbe cepi, vāseṭṭha, khattiyā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa khattiyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya. Sabbe cepi, vāseṭṭha, brāhmaṇā …pe… vessā … suddā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sabbesampissa suddānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Sadevako cepi, vāseṭṭha, loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā sadevamanussā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, sadevakassapissa lokassa samārakassa sabrahmakassa sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
Ime cepi, vāseṭṭha, mahāsālā aṭṭhaṅgasamannāgataṁ uposathaṁ upavaseyyuṁ, imesampissa mahāsālānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāya (…).
Ko pana vādo manussabhūtassā”ti.
Catutthaṁ.