TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí. Thế nào là tám?
TTC 2Vì lòng dục nên bố thí; vì sân hận nên bố thí; vì ngu si nên bố thí; vì sợ hãi nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Trước tổ tiên đã bố thí, trước đã làm. Ta không xứng đáng là người để truyền thống này bị bỏ phế” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Sau khi cho bố thí này, khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Khi ta bố thí này, tâm được tịnh tín, do hân hoan, hỷ được sanh” nên bố thí; để trang nghiêm tâm, trang bị tâm, nên bố thí.
Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí này.
“Aṭṭhimāni, bhikkhave, dānavatthūni.
Katamāni aṭṭha?
Chandā dānaṁ deti, dosā dānaṁ deti, mohā dānaṁ deti, bhayā dānaṁ deti, ‘dinnapubbaṁ katapubbaṁ pitupitāmahehi, nārahāmi porāṇaṁ kulavaṁsaṁ hāpetun’ti dānaṁ deti, ‘imāhaṁ dānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmī’ti dānaṁ deti, ‘imaṁ me dānaṁ dadato cittaṁ pasīdati, attamanatā somanassaṁ upajāyatī’ti dānaṁ deti, cittālaṅkāracittaparikkhāratthaṁ dānaṁ deti.
Imāni kho, bhikkhave, aṭṭha dānavatthūnī”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these eight grounds for giving. What eight? (1) One gives a gift from desire. (2) One gives a gift from hatred. (3) One gives a gift from delusion. (4) One gives a gift from fear. (5) One gives a gift, thinking: ‘Giving was practiced before by my father and forefathers; I should not abandon this ancient family custom.’ (6) One gives a gift, thinking: ‘Having given this gift, with the breakup of the body, after death, I will be reborn in a good destination, in a heavenly world.’ (7) One gives a gift, thinking: ‘When I am giving this gift my mind becomes placid, an.iv.237 and elation and joy arise.’ (8) One gives a gift for the purpose of ornamenting the mind, equipping the mind. These are the eight grounds for giving.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí. Thế nào là tám?
TTC 2Vì lòng dục nên bố thí; vì sân hận nên bố thí; vì ngu si nên bố thí; vì sợ hãi nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Trước tổ tiên đã bố thí, trước đã làm. Ta không xứng đáng là người để truyền thống này bị bỏ phế” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Sau khi cho bố thí này, khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này” nên bố thí; vì nghĩ rằng: “Khi ta bố thí này, tâm được tịnh tín, do hân hoan, hỷ được sanh” nên bố thí; để trang nghiêm tâm, trang bị tâm, nên bố thí.
Này các Tỷ-kheo, có tám căn bản để bố thí này.
“Aṭṭhimāni, bhikkhave, dānavatthūni.
Katamāni aṭṭha?
Chandā dānaṁ deti, dosā dānaṁ deti, mohā dānaṁ deti, bhayā dānaṁ deti, ‘dinnapubbaṁ katapubbaṁ pitupitāmahehi, nārahāmi porāṇaṁ kulavaṁsaṁ hāpetun’ti dānaṁ deti, ‘imāhaṁ dānaṁ datvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissāmī’ti dānaṁ deti, ‘imaṁ me dānaṁ dadato cittaṁ pasīdati, attamanatā somanassaṁ upajāyatī’ti dānaṁ deti, cittālaṅkāracittaparikkhāratthaṁ dānaṁ deti.
Imāni kho, bhikkhave, aṭṭha dānavatthūnī”ti.
Tatiyaṁ.