TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này cho thiện nam tử có lòng tin. Thế nào là năm?
Các Thiện nhân, các Chân nhân, trước hết có lòng thương tưởng đến vị có lòng tin, không có như vậy đối với vị không có lòng tin; khi đến thăm, trước hết họ đến thăm vị có lòng tin, không có như vậy đối với vị không có lòng tin; khi chấp nhận, họ chấp nhận (các món ăn) trước hết từ những người có lòng tin, không từ những người không có lòng tin; họ thuyết pháp trước hết cho những người có lòng tin, không cho những người không có lòng tin; người có lòng tin, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi Trời. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm lợi ích cho thiện nam tử có lòng tin.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, trên khoảnh đất tốt, tại ngã tư đường, có cây bàng to lớn là chỗ nương tựa cho các loài chim chung quanh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử có lòng tin là chỗ nương tựa cho quần chúng, cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cho nam cư sĩ và cho nữ cư sĩ.
Như cây bàng to lớn,
Với cành, lá, trái cây,
Với thân, rễ, đầy trái,
Làm chỗ trú loài chim.
Tại trú xứ thoải mái,
Các con chim làm tổ,
Cần bóng mát, hứng mát,
Cần trái cây, ăn trái.
Cũng vậy, vị trì giới,
Người có lòng tịnh tín,
Khiêm nhường và nhu thuận,
Hiền hòa, lời từ tốn,
Tánh tình thật dịu hiền,
Vị đoạn tham, đoạn sân,
Ðoạn si, không lậu hoặc,
Là ruộng phước ở đời.
Họ đến người như vậy,
Họ thuyết pháp, người ấy
Ðoạn trừ mọi khổ đau,
Vị ấy ở tại đây,
Hiểu biết Chánh pháp ấy,
Viên bản nhập Niết-bàn,
Hoàn toàn không lậu hoặc.
“Pañcime, bhikkhave, saddhe kulaputte ānisaṁsā.
Katame pañca?
Ye te, bhikkhave, loke santo sappurisā te saddhaññeva paṭhamaṁ anukampantā anukampanti, no tathā assaddhaṁ;
saddhaññeva paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamanti, no tathā assaddhaṁ;
saddhaññeva paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhanti, no tathā assaddhaṁ;
saddhaññeva paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desenti, no tathā assaddhaṁ;
saddho kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Ime kho, bhikkhave, pañca saddhe kulaputte ānisaṁsā.
Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṁ catumahāpathe mahānigrodho samantā pakkhīnaṁ paṭisaraṇaṁ hoti;
evamevaṁ kho, bhikkhave, saddho kulaputto bahuno janassa paṭisaraṇaṁ hoti bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānanti.
Sākhāpattaphalūpeto,
khandhimāva mahādumo;
Mūlavā phalasampanno,
patiṭṭhā hoti pakkhinaṁ.
Manorame āyatane,
sevanti naṁ vihaṅgamā;
Chāyaṁ chāyatthikā yanti,
phalatthā phalabhojino.
Tatheva sīlasampannaṁ,
saddhaṁ purisapuggalaṁ;
Nivātavuttiṁ atthaddhaṁ,
sorataṁ sakhilaṁ muduṁ.
Vītarāgā vītadosā,
vītamohā anāsavā;
Puññakkhettāni lokasmiṁ,
sevanti tādisaṁ naraṁ.
Te tassa dhammaṁ desenti,
Sabbadukkhāpanūdanaṁ;
Yaṁ so dhammaṁ idhaññāya,
Parinibbāti anāsavo”ti.
Aṭṭhamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, these five benefits come to a clansman endowed with faith. What five? (1) When the good persons in the world show compassion, they first show compassion to the person with faith, not so to the person without faith. (2) When they approach anyone, they first approach the person with faith, not so the person without faith. (3) When they receive alms, they first receive alms from the person with faith, not so from the person without faith. (4) When they teach the Dhamma, they first teach the Dhamma to the person with faith, not so to the person without faith. (5) With the breakup of the body, after death, a person with faith is reborn in a good destination, in a heavenly world. These are the five benefits that come to a clansman who has faith.
SC 2“Just as at a crossroads on level ground, a great banyan tree becomes the resort for birds all around, so an.iii.43 the clansman endowed with faith becomes the resort for many people: for bhikkhus, bhikkhunīs, male lay followers, and female lay followers.”
SC 3A large tree with a mighty trunk,
branches, leaves, and fruit,
firm roots, and bearing fruit,
is a support for many birds.
Having flown across the sky,
the birds resort to this delightful base:
those in need of shade partake of its shade;
those needing fruit enjoy its fruit.
SC 4Just so, when a person is virtuous,
endowed with faith,
of humble manner, compliant,
gentle, welcoming, soft,
those in the world who are fields of merit—
devoid of lust and hatred,
devoid of delusion, taintless—
resort to such a person.
SC 5They teach him the Dhamma
that dispels all suffering,
having understood which
the taintless one here attains nibbāna.
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích này cho thiện nam tử có lòng tin. Thế nào là năm?
Các Thiện nhân, các Chân nhân, trước hết có lòng thương tưởng đến vị có lòng tin, không có như vậy đối với vị không có lòng tin; khi đến thăm, trước hết họ đến thăm vị có lòng tin, không có như vậy đối với vị không có lòng tin; khi chấp nhận, họ chấp nhận (các món ăn) trước hết từ những người có lòng tin, không từ những người không có lòng tin; họ thuyết pháp trước hết cho những người có lòng tin, không cho những người không có lòng tin; người có lòng tin, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi Trời. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm lợi ích cho thiện nam tử có lòng tin.
TTC 2Ví như, này các Tỷ-kheo, trên khoảnh đất tốt, tại ngã tư đường, có cây bàng to lớn là chỗ nương tựa cho các loài chim chung quanh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử có lòng tin là chỗ nương tựa cho quần chúng, cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cho nam cư sĩ và cho nữ cư sĩ.
Như cây bàng to lớn,
Với cành, lá, trái cây,
Với thân, rễ, đầy trái,
Làm chỗ trú loài chim.
Tại trú xứ thoải mái,
Các con chim làm tổ,
Cần bóng mát, hứng mát,
Cần trái cây, ăn trái.
Cũng vậy, vị trì giới,
Người có lòng tịnh tín,
Khiêm nhường và nhu thuận,
Hiền hòa, lời từ tốn,
Tánh tình thật dịu hiền,
Vị đoạn tham, đoạn sân,
Ðoạn si, không lậu hoặc,
Là ruộng phước ở đời.
Họ đến người như vậy,
Họ thuyết pháp, người ấy
Ðoạn trừ mọi khổ đau,
Vị ấy ở tại đây,
Hiểu biết Chánh pháp ấy,
Viên bản nhập Niết-bàn,
Hoàn toàn không lậu hoặc.
“Pañcime, bhikkhave, saddhe kulaputte ānisaṁsā.
Katame pañca?
Ye te, bhikkhave, loke santo sappurisā te saddhaññeva paṭhamaṁ anukampantā anukampanti, no tathā assaddhaṁ;
saddhaññeva paṭhamaṁ upasaṅkamantā upasaṅkamanti, no tathā assaddhaṁ;
saddhaññeva paṭhamaṁ paṭiggaṇhantā paṭiggaṇhanti, no tathā assaddhaṁ;
saddhaññeva paṭhamaṁ dhammaṁ desentā desenti, no tathā assaddhaṁ;
saddho kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Ime kho, bhikkhave, pañca saddhe kulaputte ānisaṁsā.
Seyyathāpi, bhikkhave, subhūmiyaṁ catumahāpathe mahānigrodho samantā pakkhīnaṁ paṭisaraṇaṁ hoti;
evamevaṁ kho, bhikkhave, saddho kulaputto bahuno janassa paṭisaraṇaṁ hoti bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānanti.
Sākhāpattaphalūpeto,
khandhimāva mahādumo;
Mūlavā phalasampanno,
patiṭṭhā hoti pakkhinaṁ.
Manorame āyatane,
sevanti naṁ vihaṅgamā;
Chāyaṁ chāyatthikā yanti,
phalatthā phalabhojino.
Tatheva sīlasampannaṁ,
saddhaṁ purisapuggalaṁ;
Nivātavuttiṁ atthaddhaṁ,
sorataṁ sakhilaṁ muduṁ.
Vītarāgā vītadosā,
vītamohā anāsavā;
Puññakkhettāni lokasmiṁ,
sevanti tādisaṁ naraṁ.
Te tassa dhammaṁ desenti,
Sabbadukkhāpanūdanaṁ;
Yaṁ so dhammaṁ idhaññāya,
Parinibbāti anāsavo”ti.
Aṭṭhamaṁ.