TTC 1Một thời, Tôn giả Ananda trú ở giữa các dân chúng Koliya tại một thị trấn các Koliya tên là Sàpùgà. Rồi rất nhiều Koliya tử ở Sàpùgà đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với các Koliya tử ấy ở Sàpùgà:
—Này các Vyagghapajjà, có bốn thanh tịnh tinh cần chi phần này được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để đạt đến chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Giới thanh tịnh tinh cần chi phần, tâm thanh tịnh tinh cần chi phần, kiến thanh tịnh tinh cần chi phần, giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần.
TTC 2Và này các Vyagghapajjà, thế nào là giới thanh tịnh tinh cần chi phần?
Ở đây, này Vyagghapajjà, Tỷ-kheo có giới …, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là giới thanh tịnh; với lời nguyền: “Nếu giới thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu giới thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là giới thanh tịnh tinh cần chi phần.
Và này các Vyagghapajjà, thế nào là tâm thanh tịnh tinh cần chi phần?
TTC 3Ở đây, này các Vyagghapajjà, vị Tỷ-kheo ly các dục … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là tâm thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu tâm thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu tâm thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là tâm thanh tịnh tinh cần chi phần.
TTC 4Và này các Vyagghapajjà, thế nào là kiến thanh tịnh tinh cần chi phần?
Ở đây, này các Vyagghapajjà, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ”; như thật quán tri: “Ðây là khổ tập”; như thật quán tri: “Ðây là khổ diệt”; như thật quán tri: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là kiến thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu kiến thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu kiến thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là kiến thanh tịnh tinh cần chi phần.
TTC 5Và này các Vyagghapajjà, thế nào là giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần?
Vị Thánh đệ tử nào, này các Vyagghapajjà, thành tựu với giới thanh tịnh tinh cần chi phần này, thành tựu với tâm thanh tịnh tinh cần chi phần này, và thành tựu với kiến thanh tịnh tinh cần chi phần này, tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát. Vị ấy, sau khi tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát, cảm xúc chánh giải thoát. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là giải thoát thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu giải thoát thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu giải thoát thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần.
Bốn thanh tịnh tinh cần chi phần này, này các Vyagghapajjà, đã được Thế Tôn, bậc đã biết đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn!
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando koliyesu viharati sāmugaṁ nāma koliyānaṁ nigamo.
Atha kho sambahulā sāmugiyā koliyaputtā yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te sāmugiye koliyaputte āyasmā ānando etadavoca:
“Cattārimāni, byagghapajjā, pārisuddhipadhāniyaṅgāni tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātāni sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya.
Katamāni cattāri?
Sīlapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Katamañca, byagghapajjā, sīlapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ?
Idha, byagghapajjā, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, sīlapārisuddhi.
Iti evarūpiṁ sīlapārisuddhiṁ aparipūraṁ vā paripūressāmi paripūraṁ vā tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, sīlapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Katamañca, byagghapajjā, cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ?
Idha, byagghapajjā, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, cittapārisuddhi.
Iti evarūpiṁ cittapārisuddhiṁ aparipūraṁ vā paripūressāmi paripūraṁ vā tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Katamañca, byagghapajjā, diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ?
Idha, byagghapajjā, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, diṭṭhipārisuddhi.
Iti evarūpiṁ diṭṭhipārisuddhiṁ aparipūraṁ vā …pe… tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Katamañca, byagghapajjā, vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ?
Sa kho so, byagghapajjā, ariyasāvako iminā ca sīlapārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato iminā ca cittapārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato iminā ca diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato rajanīyesu dhammesu cittaṁ virājeti, vimocanīyesu dhammesu cittaṁ vimoceti.
So rajanīyesu dhammesu cittaṁ virājetvā, vimocanīyesu dhammesu cittaṁ vimocetvā sammāvimuttiṁ phusati.
Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, vimuttipārisuddhi.
Iti evarūpiṁ vimuttipārisuddhiṁ aparipūraṁ vā paripūressāmi paripūraṁ vā tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Imāni kho, byagghapajjā, cattāri pārisuddhipadhāniyaṅgāni tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātāni sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
Catutthaṁ.
At one time Venerable Ānanda was staying in the land of the Koliyans, where they have a town named Sāpūga.
Then several Koliyans from Sāpūga went up to Ānanda, bowed, and sat down to one side. Then Venerable Ānanda said to them:
“Byagghapajjas, these four factors of trying to be pure have been rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. They are in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment.
What four?
The factors of trying to be pure in ethics, mind, view, and freedom.
And what is the factor of trying to be pure in ethics?
It’s when a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
This is called purity of ethics.
They think: ‘I will fulfill such purity of ethics, or, if it’s already fulfilled, I’ll support it in every situation by wisdom.’ Their enthusiasm for that—their effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness—is called the factor of trying to be pure in ethics.
And what is the factor of trying to be pure in mind?
It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption … fourth absorption.
This is called purity of mind.
They think: ‘I will fulfill such purity of mind, or, if it’s already fulfilled, I’ll support it in every situation by wisdom.’ Their enthusiasm for that—their effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness—is called the factor of trying to be pure in mind.
And what is the factor of trying to be pure in view?
Take a mendicant who truly understands: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering’.
This is called purity of view.
They think: ‘I will fulfill such purity of view, or, if it’s already fulfilled, I’ll support it in every situation by wisdom.’ Their enthusiasm for that—their effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness—is called the factor of trying to be pure in view.
And what is the factor of trying to be pure in freedom?
That noble disciple—who has these factors of trying to be pure in ethics, mind, and view—detaches their mind from things that arouse greed, and frees their mind from things that it should be freed from.
Doing so, they experience perfect freedom.
This is called purity of freedom.
They think: ‘I will fulfill such purity of freedom, or, if it’s already fulfilled, I’ll support it in every situation by wisdom.’ Their enthusiasm for that—their effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness—is called the factor of trying to be pure in freedom.
These four factors of trying to be pure have been rightly explained by the Blessed One, who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha. They are in order to purify sentient beings, to get past sorrow and crying, to make an end of pain and sadness, to discover the system, and to realize extinguishment.”
TTC 1Một thời, Tôn giả Ananda trú ở giữa các dân chúng Koliya tại một thị trấn các Koliya tên là Sàpùgà. Rồi rất nhiều Koliya tử ở Sàpùgà đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda nói với các Koliya tử ấy ở Sàpùgà:
—Này các Vyagghapajjà, có bốn thanh tịnh tinh cần chi phần này được Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để đạt đến chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn. Thế nào là bốn?
Giới thanh tịnh tinh cần chi phần, tâm thanh tịnh tinh cần chi phần, kiến thanh tịnh tinh cần chi phần, giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần.
TTC 2Và này các Vyagghapajjà, thế nào là giới thanh tịnh tinh cần chi phần?
Ở đây, này Vyagghapajjà, Tỷ-kheo có giới …, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là giới thanh tịnh; với lời nguyền: “Nếu giới thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu giới thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là giới thanh tịnh tinh cần chi phần.
Và này các Vyagghapajjà, thế nào là tâm thanh tịnh tinh cần chi phần?
TTC 3Ở đây, này các Vyagghapajjà, vị Tỷ-kheo ly các dục … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là tâm thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu tâm thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu tâm thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là tâm thanh tịnh tinh cần chi phần.
TTC 4Và này các Vyagghapajjà, thế nào là kiến thanh tịnh tinh cần chi phần?
Ở đây, này các Vyagghapajjà, Tỷ-kheo như thật quán tri: “Ðây là khổ”; như thật quán tri: “Ðây là khổ tập”; như thật quán tri: “Ðây là khổ diệt”; như thật quán tri: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là kiến thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu kiến thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu kiến thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là kiến thanh tịnh tinh cần chi phần.
TTC 5Và này các Vyagghapajjà, thế nào là giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần?
Vị Thánh đệ tử nào, này các Vyagghapajjà, thành tựu với giới thanh tịnh tinh cần chi phần này, thành tựu với tâm thanh tịnh tinh cần chi phần này, và thành tựu với kiến thanh tịnh tinh cần chi phần này, tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát. Vị ấy, sau khi tâm được ly tham đối với các pháp hấp dẫn, tâm được giải thoát đối với các pháp cần được giải thoát, cảm xúc chánh giải thoát. Này các Vyagghapajjà, đây gọi là giải thoát thanh tịnh; với lời nguyện: “Nếu giải thoát thanh tịnh như vậy chưa đầy đủ, tôi sẽ làm cho đầy đủ. Nếu giải thoát thanh tịnh như vậy được đầy đủ, tôi sẽ học thêm chỗ này chỗ kia với trí tuệ”. Ở đây, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, phấn chấn, không có thối thất, chánh niệm tỉnh giác, này các Vyagghapajjà, đều được gọi là giải thoát thanh tịnh tinh cần chi phần.
Bốn thanh tịnh tinh cần chi phần này, này các Vyagghapajjà, đã được Thế Tôn, bậc đã biết đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên để chúng sanh được thanh tịnh, để vượt qua sầu bi, để chấm dứt khổ ưu, để chứng đắc chánh lý, để chứng ngộ Niết-bàn!
Ekaṁ samayaṁ āyasmā ānando koliyesu viharati sāmugaṁ nāma koliyānaṁ nigamo.
Atha kho sambahulā sāmugiyā koliyaputtā yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te sāmugiye koliyaputte āyasmā ānando etadavoca:
“Cattārimāni, byagghapajjā, pārisuddhipadhāniyaṅgāni tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātāni sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya.
Katamāni cattāri?
Sīlapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ, vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Katamañca, byagghapajjā, sīlapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ?
Idha, byagghapajjā, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, sīlapārisuddhi.
Iti evarūpiṁ sīlapārisuddhiṁ aparipūraṁ vā paripūressāmi paripūraṁ vā tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, sīlapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Katamañca, byagghapajjā, cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ?
Idha, byagghapajjā, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, cittapārisuddhi.
Iti evarūpiṁ cittapārisuddhiṁ aparipūraṁ vā paripūressāmi paripūraṁ vā tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, cittapārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Katamañca, byagghapajjā, diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ?
Idha, byagghapajjā, bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, diṭṭhipārisuddhi.
Iti evarūpiṁ diṭṭhipārisuddhiṁ aparipūraṁ vā …pe… tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Katamañca, byagghapajjā, vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ?
Sa kho so, byagghapajjā, ariyasāvako iminā ca sīlapārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato iminā ca cittapārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato iminā ca diṭṭhipārisuddhipadhāniyaṅgena samannāgato rajanīyesu dhammesu cittaṁ virājeti, vimocanīyesu dhammesu cittaṁ vimoceti.
So rajanīyesu dhammesu cittaṁ virājetvā, vimocanīyesu dhammesu cittaṁ vimocetvā sammāvimuttiṁ phusati.
Ayaṁ vuccati, byagghapajjā, vimuttipārisuddhi.
Iti evarūpiṁ vimuttipārisuddhiṁ aparipūraṁ vā paripūressāmi paripūraṁ vā tattha tattha paññāya anuggahessāmīti, yo tattha chando ca vāyāmo ca ussāho ca ussoḷhī ca appaṭivānī ca sati ca sampajaññañca, idaṁ vuccati, byagghapajjā, vimuttipārisuddhipadhāniyaṅgaṁ.
Imāni kho, byagghapajjā, cattāri pārisuddhipadhāniyaṅgāni tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sammadakkhātāni sattānaṁ visuddhiyā sokaparidevānaṁ samatikkamāya dukkhadomanassānaṁ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāyā”ti.
Catutthaṁ.