TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:
TTC 2—Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
—Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.
Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena nakulapituno gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho nakulapitā ca gahapati nakulamātā ca gahapatānī yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho nakulapitā gahapati bhagavantaṁ etadavoca:
“Yato me, bhante, nakulamātā gahapatānī daharasseva daharā ānītā, nābhijānāmi nakulamātaraṁ gahapatāniṁ manasāpi aticaritā, kuto pana kāyena.
Iccheyyāma mayaṁ, bhante, diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passitun”ti.
Nakulamātāpi kho gahapatānī bhagavantaṁ etadavoca:
“yatohaṁ, bhante, nakulapituno gahapatissa daharasseva daharā ānītā, nābhijānāmi nakulapitaraṁ gahapatiṁ manasāpi aticaritā, kuto pana kāyena.
Iccheyyāma mayaṁ, bhante, diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passitun”ti.
“Ākaṅkheyyuñce, gahapatayo, ubho jānipatayo diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passituṁ ubhova assu samasaddhā samasīlā samacāgā samapaññā, te diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passanti abhisamparāyañca aññamaññaṁ passantīti.
Ubho saddhā vadaññū ca,
saññatā dhammajīvino;
Te honti jānipatayo,
aññamaññaṁ piyaṁvadā.
Atthāsaṁ pacurā honti,
phāsukaṁ upajāyati;
Amittā dummanā honti,
ubhinnaṁ samasīlinaṁ.
Idha dhammaṁ caritvāna,
samasīlabbatā ubho;
Nandino devalokasmiṁ,
modanti kāmakāmino”ti.
Pañcamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Bhaggas in Suṁsumāragira in the deer park at Bhesakalā Grove. Then, in the morning, the Blessed One dressed, took his bowl and robe, and went to the residence of the householder Nakulapitā, where he sat down in the prepared seat. Then the householder Nakulapitā and the housewife Nakulamātā approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The householder Nakulapitā then said to the Blessed One:
SC 2“Bhante, since I was young, when the young girl Nakulamātā was given to me in marriage, I do not recall ever transgressing against her even in thought, much less by deed. We wish, Bhante, to see one another not only in this present life but also in future lives.”
SC 3The housewife Nakulamātā in turn said to the Blessed One: “Bhante, since I was a young girl given to the young householder Nakulapitā in marriage, I do not recall ever transgressing against him even in thought, much less by deed. We wish, Bhante, to see one another not only in this present life but also in future lives.” an.ii.62
SC 4“Householders, if both husband and wife wish to see one another not only in this present life but also in future lives, they should have the same faith, the same virtuous behavior, the same generosity, and the same wisdom. Then they will see one another not only in this present life but also in future lives.”
SC 5Both husband and wife are endowed with faith,
charitable and self-controlled,
living their lives righteously,
addressing each other with pleasant words,
SC 6Then many benefits accrue to them
and they dwell at ease.
Their enemies are saddened
when both are the same in virtue.
SC 7Having practiced the Dhamma here,
the same in virtuous behavior and observances,
delighting after death in a deva world,
they rejoice, enjoying sensual pleasures.
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:
TTC 2—Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
—Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
—Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.
Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā bhaggesu viharati susumāragire bhesakaḷāvane migadāye.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena nakulapituno gahapatissa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho nakulapitā ca gahapati nakulamātā ca gahapatānī yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho nakulapitā gahapati bhagavantaṁ etadavoca:
“Yato me, bhante, nakulamātā gahapatānī daharasseva daharā ānītā, nābhijānāmi nakulamātaraṁ gahapatāniṁ manasāpi aticaritā, kuto pana kāyena.
Iccheyyāma mayaṁ, bhante, diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passitun”ti.
Nakulamātāpi kho gahapatānī bhagavantaṁ etadavoca:
“yatohaṁ, bhante, nakulapituno gahapatissa daharasseva daharā ānītā, nābhijānāmi nakulapitaraṁ gahapatiṁ manasāpi aticaritā, kuto pana kāyena.
Iccheyyāma mayaṁ, bhante, diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passitun”ti.
“Ākaṅkheyyuñce, gahapatayo, ubho jānipatayo diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passituṁ abhisamparāyañca aññamaññaṁ passituṁ ubhova assu samasaddhā samasīlā samacāgā samapaññā, te diṭṭhe ceva dhamme aññamaññaṁ passanti abhisamparāyañca aññamaññaṁ passantīti.
Ubho saddhā vadaññū ca,
saññatā dhammajīvino;
Te honti jānipatayo,
aññamaññaṁ piyaṁvadā.
Atthāsaṁ pacurā honti,
phāsukaṁ upajāyati;
Amittā dummanā honti,
ubhinnaṁ samasīlinaṁ.
Idha dhammaṁ caritvāna,
samasīlabbatā ubho;
Nandino devalokasmiṁ,
modanti kāmakāmino”ti.
Pañcamaṁ.