TTC 1Rồi Kesi, người đánh xe điều phục ngựa đi đến Thế tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế tôn nói với Kesi, người đánh xe điều phục ngựa đang ngồi một bên:
TTC 2—Này Kesi, Ông là người đánh xe điều phục ngựa, có chế ngự. Và này Kesi, Ông nhiếp phục ngựa như thế nào?
—Bạch Thế tôn, con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời nói mềm mỏng; con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời thô ác; con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời nói mềm mỏng và thô ác.
—Này Kesi, nếu con ngựa đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói thô ác, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và thô ác, thời Ông làm gì với con ngựa ấy?
—Bạch Thế tôn, nếu con ngựa đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói thô ác, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và thô ác của con, thời bạch Thế tôn, con giết nó. Vì sao? Vì mong rằng nó không làm mất danh dự cho gia đình thầy của con! Nhưng bạch Thế tôn, Thế tôn là bậc Vô thượng, đánh xe điều ngự những ai đáng được điều ngự, như thế nào Thế tôn nhiếp phục những ai đáng được điều phục?
TTC 3—Này Kesi, Ta nhiếp phục người đáng được nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, Ta nhiếp phục với lời nói cứng rắn, Ta nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng, vừa cứng rắn.
Tại đây, này Kesi, đây là với lời nói mềm mỏng: Ðây là thân làm thiện, đây là quả báo thân làm thiện. Ðây là lời nói thiện, đây là quả báo lời nói thiện. Ðây là ý nghĩ thiện, đây là quả báo ý nghĩ thiện, Ðây là chư Thiên. Ðây là loài Người.
Tại đây, này Kesi, đây là với lời nói cứng rắn: Ðây là thân làm ác, đây là quả báo thân làm ác. Ðây là lời nói ác, đây là quả báo lời nói ác. Ðây là ý nghĩ ác, đây là quả báo ý nghĩ ác. Ðây là địa ngục. Ðây là loài bàng sanh. Ðây là loại ngạ quỷ.
Tại đây, này Kesi, đây là lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn: Ðây là thân làm thiện, đây là quả báo thân làm thiện. Ðây là thân làm ác, đây là quả báo thân làm ác. Ðây là lời nói thiện, đây là quả báo lời nói thiện. Ðây là lời nói ác, đây là quả báo lời nói ác. Ðây là ý nghĩ thiện, đây là quả báo ý nghĩ thiện. Ðây là ý nghĩ ác, đây là quả báo ý nghĩ ác. Ðây là chư Thiên. Ðây là loài Người. Ðây là địa ngục. Ðây là loài bàng sanh. Ðây là ngạ quỷ.
—Bạch Thế tôn, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Thế tôn, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, thời Thế tôn làm gì với người ấy?
—Này Kesi, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Ta, không chịu nhiếp phục với lời nói cúng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn, này Kesi, thời Ta giết hại người ấy!
TTC 4—Nhưng bạch Thế tôn, sát sanh không xứng đáng với Thế tôn. Tuy vậy, Thế tôn nói: “Này Kesi, Ta giết hại người ấy”.
—Thấy vậy, này Kesi, sát sanh không xứng đáng với Như Lai. Nhưng người đáng được điều phục ấy không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, Như Lai nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Và các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Bị giết hại, này Kesi là con người này, trong giới luật của bậc Thánh, bị Như Lai nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới.
—Bạch Thế tôn, người ấy bị bậc Thiện Thệ giết hại là người nào bị Như Lai nghĩ rằng không xứng đáng được nói đến, không xứng đáng được giáo giới, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới. Thật vi diệu thay, bạch Thế tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế tôn! … bắt đầu từ nay, mong Thế tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Atha kho kesi assadammasārathi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho kesiṁ assadammasārathiṁ bhagavā etadavoca:
“tvaṁ khosi, kesi, paññāto assadammasārathīti.
Kathaṁ pana tvaṁ, kesi, assadammaṁ vinesī”ti?
“Ahaṁ kho, bhante, assadammaṁ saṇhenapi vinemi, pharusenapi vinemi, saṇhapharusenapi vinemī”ti.
“Sace te, kesi, assadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti, kinti naṁ karosī”ti?
“Sace me, bhante, assadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti;
hanāmi naṁ, bhante.
Taṁ kissa hetu?
‘Mā me ācariyakulassa avaṇṇo ahosī’ti.
Bhagavā pana, bhante, anuttaro purisadammasārathi.
Kathaṁ pana, bhante, bhagavā purisadammaṁ vinetī”ti?
“Ahaṁ kho, kesi, purisadammaṁ saṇhenapi vinemi, pharusenapi vinemi, saṇhapharusenapi vinemi.
Tatridaṁ, kesi, saṇhasmiṁ—
iti kāyasucaritaṁ iti kāyasucaritassa vipāko, iti vacīsucaritaṁ iti vacīsucaritassa vipāko, iti manosucaritaṁ iti manosucaritassa vipāko, iti devā, iti manussāti.
Tatridaṁ, kesi, pharusasmiṁ—
iti kāyaduccaritaṁ iti kāyaduccaritassa vipāko, iti vacīduccaritaṁ iti vacīduccaritassa vipāko, iti manoduccaritaṁ iti manoduccaritassa vipāko, iti nirayo, iti tiracchānayoni, iti pettivisayoti.
Tatridaṁ, kesi, saṇhapharusasmiṁ—
iti kāyasucaritaṁ iti kāyasucaritassa vipāko, iti kāyaduccaritaṁ iti kāyaduccaritassa vipāko, iti vacīsucaritaṁ iti vacīsucaritassa vipāko, iti vacīduccaritaṁ iti vacīduccaritassa vipāko, iti manosucaritaṁ iti manosucaritassa vipāko, iti manoduccaritaṁ iti manoduccaritassa vipāko, iti devā, iti manussā, iti nirayo, iti tiracchānayoni, iti pettivisayo”ti.
“Sace te, bhante, purisadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti, kinti naṁ bhagavā karotī”ti?
“Sace me, kesi, purisadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti, hanāmi naṁ, kesī”ti.
“Na kho, bhante, bhagavato pāṇātipāto kappati.
Atha ca pana bhagavā evamāha:
‘hanāmi naṁ, kesī’”ti.
“Saccaṁ, kesi.
Na tathāgatassa pāṇātipāto kappati.
Api ca yo purisadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti, na taṁ tathāgato vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññati, nāpi viññū sabrahmacārī vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti.
Vadho heso, kesi, ariyassa vinaye—
yaṁ na tathāgato vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññati, nāpi viññū sabrahmacārī vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññantī”ti.
“So hi nūna, bhante, suhato hoti—
yaṁ na tathāgato vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññati, nāpi viññū sabrahmacārī vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññantīti.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Paṭhamaṁ.
Then Kesi the horsetrainer went to the Blessed One and, on arrival, having bowed down, sat to one side. As he was sitting there, the Blessed One said to him: “You, Kesi, are a trained man, a trainer of tamable horses. And how do you train a tamable horse?”
“Lord, I train a tamable horse [sometimes] with gentleness, [sometimes] with harshness, [sometimes] with both gentleness & harshness.”
“And if a tamable horse doesn’t submit either to a mild training or to a harsh training or to a mild & harsh training, Kesi, what do you do?”
“If a tamable horse doesn’t submit either to a mild training or to a harsh training or to a mild and harsh training, lord, then I kill it. Why is that? [I think:] ‘Don’t let this be a disgrace to my lineage of teachers.’ But the Blessed One, lord, is the unexcelled trainer of tamable people. How do you train a tamable person?”
“Kesi, I train a tamable person [sometimes] with gentleness, [sometimes] with harshness, [sometimes] with both gentleness & harshness.
“In using gentleness, [I teach:] ‘Such is good bodily conduct. Such is the result of good bodily conduct. Such is good verbal conduct. Such is the result of good verbal conduct. Such is good mental conduct. Such is the result of good mental conduct. Such are the devas. Such are human beings.’
“In using harshness, [I teach:] ‘Such is bodily misconduct. Such is the result of bodily misconduct. Such is verbal misconduct. Such is the result of verbal misconduct. Such is mental misconduct. Such is the result of mental misconduct. Such is hell. Such is the animal womb. Such the realm of the hungry shades.’
“In using gentleness & harshness, [I teach:] ‘Such is good bodily conduct. Such is the result of good bodily conduct. Such is bodily misconduct. Such is the result of bodily misconduct. Such is good verbal conduct. Such is the result of good verbal conduct. Such is verbal misconduct. Such is the result of verbal misconduct. Such is good mental conduct. Such is the result of good mental conduct. Such is mental misconduct. Such is the result of mental misconduct. Such are the devas. Such are human beings. Such is hell. Such is the animal womb. Such the realm of the hungry shades.’”
“And if a tamable person doesn’t submit either to a mild training or to a harsh training or to a mild & harsh training, what do you do?”
“If a tamable person doesn’t submit either to a mild training or to a harsh training or to a mild & harsh training, then I kill him, Kesi.”
“But it’s not proper for our Blessed One to take life! And yet the Blessed One just said, ‘I kill him, Kesi.’”
“It is true, Kesi, that it’s not proper for a Tathagata to take life. But if a tamable person doesn’t submit either to a mild training or to a harsh training or to a mild & harsh training, then the Tathagata doesn’t regard him as being worth speaking to or admonishing. His knowledgeable fellows in the holy life don’t regard him as being worth speaking to or admonishing. This is what it means to be totally destroyed in the Doctrine & Discipline, when the Tathagata doesn’t regard one as being worth speaking to or admonishing, and one’s knowledgeable fellows in the holy life don’t regard one as being worth speaking to or admonishing.”
“Yes, lord, wouldn’t one be totally destroyed if the Tathagata doesn’t regard one as being worth speaking to or admonishing, and one’s knowledgeable fellows in the holy life don’t regard one as being worth speaking to or admonishing!
“Magnificent, lord! Magnificent! Just as if he were to place upright what was overturned, to reveal what was hidden, to show the way to one who was lost, or to carry a lamp into the dark so that those with eyes could see forms, in the same way has the Blessed One—through many lines of reasoning—made the Dhamma clear. I go to the Blessed One for refuge, to the Dhamma, and to the community of monks. May the Blessed One remember me as a lay follower who has gone to him for refuge, from this day forward, for life.”
TTC 1Rồi Kesi, người đánh xe điều phục ngựa đi đến Thế tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế tôn nói với Kesi, người đánh xe điều phục ngựa đang ngồi một bên:
TTC 2—Này Kesi, Ông là người đánh xe điều phục ngựa, có chế ngự. Và này Kesi, Ông nhiếp phục ngựa như thế nào?
—Bạch Thế tôn, con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời nói mềm mỏng; con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời thô ác; con nhiếp phục ngựa đáng được điều phục với lời nói mềm mỏng và thô ác.
—Này Kesi, nếu con ngựa đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói thô ác, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và thô ác, thời Ông làm gì với con ngựa ấy?
—Bạch Thế tôn, nếu con ngựa đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói thô ác, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và thô ác của con, thời bạch Thế tôn, con giết nó. Vì sao? Vì mong rằng nó không làm mất danh dự cho gia đình thầy của con! Nhưng bạch Thế tôn, Thế tôn là bậc Vô thượng, đánh xe điều ngự những ai đáng được điều ngự, như thế nào Thế tôn nhiếp phục những ai đáng được điều phục?
TTC 3—Này Kesi, Ta nhiếp phục người đáng được nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, Ta nhiếp phục với lời nói cứng rắn, Ta nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng, vừa cứng rắn.
Tại đây, này Kesi, đây là với lời nói mềm mỏng: Ðây là thân làm thiện, đây là quả báo thân làm thiện. Ðây là lời nói thiện, đây là quả báo lời nói thiện. Ðây là ý nghĩ thiện, đây là quả báo ý nghĩ thiện, Ðây là chư Thiên. Ðây là loài Người.
Tại đây, này Kesi, đây là với lời nói cứng rắn: Ðây là thân làm ác, đây là quả báo thân làm ác. Ðây là lời nói ác, đây là quả báo lời nói ác. Ðây là ý nghĩ ác, đây là quả báo ý nghĩ ác. Ðây là địa ngục. Ðây là loài bàng sanh. Ðây là loại ngạ quỷ.
Tại đây, này Kesi, đây là lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn: Ðây là thân làm thiện, đây là quả báo thân làm thiện. Ðây là thân làm ác, đây là quả báo thân làm ác. Ðây là lời nói thiện, đây là quả báo lời nói thiện. Ðây là lời nói ác, đây là quả báo lời nói ác. Ðây là ý nghĩ thiện, đây là quả báo ý nghĩ thiện. Ðây là ý nghĩ ác, đây là quả báo ý nghĩ ác. Ðây là chư Thiên. Ðây là loài Người. Ðây là địa ngục. Ðây là loài bàng sanh. Ðây là ngạ quỷ.
—Bạch Thế tôn, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Thế tôn, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, thời Thế tôn làm gì với người ấy?
—Này Kesi, nếu người đáng được điều phục không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng của Ta, không chịu nhiếp phục với lời nói cúng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói vừa mềm mỏng vừa cứng rắn, này Kesi, thời Ta giết hại người ấy!
TTC 4—Nhưng bạch Thế tôn, sát sanh không xứng đáng với Thế tôn. Tuy vậy, Thế tôn nói: “Này Kesi, Ta giết hại người ấy”.
—Thấy vậy, này Kesi, sát sanh không xứng đáng với Như Lai. Nhưng người đáng được điều phục ấy không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng, không chịu nhiếp phục với lời nói cứng rắn, không chịu nhiếp phục với lời nói mềm mỏng và cứng rắn, Như Lai nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Và các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng người ấy không xứng đáng để được nói đến, để được giáo giới. Bị giết hại, này Kesi là con người này, trong giới luật của bậc Thánh, bị Như Lai nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới.
—Bạch Thế tôn, người ấy bị bậc Thiện Thệ giết hại là người nào bị Như Lai nghĩ rằng không xứng đáng được nói đến, không xứng đáng được giáo giới, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghĩ rằng không đáng được nói đến, không đáng được giáo giới. Thật vi diệu thay, bạch Thế tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế tôn! … bắt đầu từ nay, mong Thế tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Atha kho kesi assadammasārathi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho kesiṁ assadammasārathiṁ bhagavā etadavoca:
“tvaṁ khosi, kesi, paññāto assadammasārathīti.
Kathaṁ pana tvaṁ, kesi, assadammaṁ vinesī”ti?
“Ahaṁ kho, bhante, assadammaṁ saṇhenapi vinemi, pharusenapi vinemi, saṇhapharusenapi vinemī”ti.
“Sace te, kesi, assadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti, kinti naṁ karosī”ti?
“Sace me, bhante, assadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti;
hanāmi naṁ, bhante.
Taṁ kissa hetu?
‘Mā me ācariyakulassa avaṇṇo ahosī’ti.
Bhagavā pana, bhante, anuttaro purisadammasārathi.
Kathaṁ pana, bhante, bhagavā purisadammaṁ vinetī”ti?
“Ahaṁ kho, kesi, purisadammaṁ saṇhenapi vinemi, pharusenapi vinemi, saṇhapharusenapi vinemi.
Tatridaṁ, kesi, saṇhasmiṁ—
iti kāyasucaritaṁ iti kāyasucaritassa vipāko, iti vacīsucaritaṁ iti vacīsucaritassa vipāko, iti manosucaritaṁ iti manosucaritassa vipāko, iti devā, iti manussāti.
Tatridaṁ, kesi, pharusasmiṁ—
iti kāyaduccaritaṁ iti kāyaduccaritassa vipāko, iti vacīduccaritaṁ iti vacīduccaritassa vipāko, iti manoduccaritaṁ iti manoduccaritassa vipāko, iti nirayo, iti tiracchānayoni, iti pettivisayoti.
Tatridaṁ, kesi, saṇhapharusasmiṁ—
iti kāyasucaritaṁ iti kāyasucaritassa vipāko, iti kāyaduccaritaṁ iti kāyaduccaritassa vipāko, iti vacīsucaritaṁ iti vacīsucaritassa vipāko, iti vacīduccaritaṁ iti vacīduccaritassa vipāko, iti manosucaritaṁ iti manosucaritassa vipāko, iti manoduccaritaṁ iti manoduccaritassa vipāko, iti devā, iti manussā, iti nirayo, iti tiracchānayoni, iti pettivisayo”ti.
“Sace te, bhante, purisadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti, kinti naṁ bhagavā karotī”ti?
“Sace me, kesi, purisadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti, hanāmi naṁ, kesī”ti.
“Na kho, bhante, bhagavato pāṇātipāto kappati.
Atha ca pana bhagavā evamāha:
‘hanāmi naṁ, kesī’”ti.
“Saccaṁ, kesi.
Na tathāgatassa pāṇātipāto kappati.
Api ca yo purisadammo saṇhena vinayaṁ na upeti, pharusena vinayaṁ na upeti, saṇhapharusena vinayaṁ na upeti, na taṁ tathāgato vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññati, nāpi viññū sabrahmacārī vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññanti.
Vadho heso, kesi, ariyassa vinaye—
yaṁ na tathāgato vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññati, nāpi viññū sabrahmacārī vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññantī”ti.
“So hi nūna, bhante, suhato hoti—
yaṁ na tathāgato vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññati, nāpi viññū sabrahmacārī vattabbaṁ anusāsitabbaṁ maññantīti.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante …pe… upāsakaṁ maṁ, bhante, bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Paṭhamaṁ.