TTC 1—Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo sư tên là Araka thuộc ngoại đạo đã ly tham đối với các dục. Này các Tỷ-kheo, Ðạo sư Araka có đến hàng trăm đệ tử. Ðạo sư Araka thuyết pháp cho các đệ tử như sau:
TTC 2“ Này Bà-la-môn, ít oi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời mọc, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, như giọt sương là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, khi trời mưa nặng hạt, bong bóng nước trên nước mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, như bong bóng nước là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể… Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, người lực sĩ tụ lại một cục nước miếng trên đầu lưỡi và nhổ đi không có phí sức. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví dụ với cục nước miếng là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể… Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, một miếng thịt được quăng vào một nồi sắt được hâm nóng cả ngày, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như miếng thịt là đời sống con người, nhỏ bé, không đáng kể… Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con bò cái sắp bị giết, được dắt đến lò thịt, mỗi bước chân giơ lên là bước gần đến bị giết, gần đến chết. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví dụ với con bò cái sắp bị giết là đời sống con người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ, hãy làm điều lành, hãy sống Phạm hạnh. Với người đã sanh, không có bất tử”.
TTC 3Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, tuổi thọ của loài Người lên đến 60.000 năm. Người con gái 500 tuổi có thể đến tuổi lấy chồng. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, loài Người có sáu loại bệnh: lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện. Này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư Araka ấy, với loài Người thọ mạng dài như vậy, sống lâu như vậy, ít bệnh như vậy, lại thuyết pháp cho các đệ tử như vậy: “Ít oi, này Bà-la-môn, là đời sống loài Người, nhỏ bé không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử”. Nay, này các Tỷ-kheo, ai nói một cách chơn chánh, phải nói như sau: “Ít oi, là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí tuệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, hãy sống Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử”. Nay, này các Tỷ-kheo, ai sống lâu, vị ấy sống một trăm tuổi, ít hơn hay nhiều hơn. Mạng sống 100 tuổi, này các Tỷ-kheo, được chia thành 300 mùa: một trăm mùa đông, một trăm mùa hạ, một trăm mùa mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống ba trăm mùa, người ấy sống 12 lần 100 tháng: 400 tháng lạnh, 400 tháng nóng, 400 tháng mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 12 lần 100 tháng, người ấy sống 24 lần một trăm nửa tháng: 800 nửa tháng lạnh, 800 nửa tháng nóng, 800 nửa tháng mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 24 lần một trăm nửa tháng, người ấy sống 36 lần 1000 đêm: 12.000 đêm lạnh, 12.000 đêm nóng, 12.000 đêm mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 36 lần 1000 đêm, người ấy ăn chỉ có 72 ngàn bữa cơm: 24 ngàn bữa cơm vào mùa lạnh, 24 ngàn bữa cơm vào mùa nóng, 24 ngàn bữa cơm vào mùa mưa. Ðây gồm có với sữa mẹ và thời gian không có đồ ăn. Ở đây, có những khi không có bữa ăn này, nghĩa là tức giận không ăn cơm, khổ đau không ăn cơm, bịnh hoạn không ăn cơm, trai giới không ăn cơm, không thâu hoạch được, không ăn cơm.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, tuổi thọ một trăm năm của loài Người được Ta gọi là tuổi thọ, được gọi là lượng của tuổi thọ, được gọi là thời tiết, được gọi là năm, được gọi là tháng, được gọi là nửa tháng, được gọi là đêm, được gọi là đêm ngày, được gọi là bữa ăn, được gọi là giữa bữa ăn.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, những gì bậc Ðạo sư phải làm, vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đệ tử, những việc ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Thầy. Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà không tịnh. Này các Tỷ-kheo, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta cho các Thầy.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, arako nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo.
Arakassa kho pana, bhikkhave, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ.
Arako satthā sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti:
‘appakaṁ, brāhmaṇa, jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, tiṇagge ussāvabindu sūriye uggacchante khippaṁyeva paṭivigacchati, na ciraṭṭhitikaṁ hoti;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, ussāvabindūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, thullaphusitake deve vassante udakabubbuḷaṁ khippaṁyeva paṭivigacchati, na ciraṭṭhitikaṁ hoti;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, udakabubbuḷūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udake daṇḍarāji khippaṁyeva paṭivigacchati, na ciraṭṭhitikā hoti;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, udake daṇḍarājūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ …pe…
natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, nadī pabbateyyā dūraṅgamā sīghasotā hārahārinī, natthi so khaṇo vā layo vā muhutto vā yaṁ sā āvattati, atha kho sā gacchateva vattateva sandateva;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, nadīpabbateyyūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ …pe…
natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, balavā puriso jivhagge kheḷapiṇḍaṁ saṁyūhitvā akasireneva vameyya;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, kheḷapiṇḍūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ …pe…
natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, divasaṁsantatte ayokaṭāhe maṁsapesi pakkhittā khippaṁyeva paṭivigacchati, na ciraṭṭhitikā hoti;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, maṁsapesūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ …pe…
natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, gāvī vajjhā āghātanaṁ nīyamānā yaṁ yadeva pādaṁ uddharati, santikeva hoti vadhassa santikeva maraṇassa;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, govajjhūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇan’ti.
Tena kho pana, bhikkhave, samayena manussānaṁ saṭṭhivassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi, pañcavassasatikā kumārikā alaṁpateyyā ahosi.
Tena kho pana, bhikkhave, samayena manussānaṁ chaḷeva ābādhā ahesuṁ—
sītaṁ, uṇhaṁ, jighacchā, pipāsā, uccāro, passāvo.
So hi nāma, bhikkhave, arako satthā evaṁ dīghāyukesu manussesu evaṁ ciraṭṭhitikesu evaṁ appābādhesu sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desessati:
‘appakaṁ, brāhmaṇa, jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇan’ti.
Etarahi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
‘appakaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇan’ti.
Etarahi, bhikkhave, yo ciraṁ jīvati so vassasataṁ appaṁ vā bhiyyo.
Vassasataṁ kho pana, bhikkhave, jīvanto tīṇiyeva utusatāni jīvati—
utusataṁ hemantānaṁ, utusataṁ gimhānaṁ, utusataṁ vassānaṁ.
Tīṇi kho pana, bhikkhave, utusatāni jīvanto dvādasayeva māsasatāni jīvati—
cattāri māsasatāni hemantānaṁ, cattāri māsasatāni gimhānaṁ, cattāri māsasatāni vassānaṁ.
Dvādasa kho pana, bhikkhave, māsasatāni jīvanto catuvīsatiyeva addhamāsasatāni jīvati—
aṭṭhaddhamāsasatāni hemantānaṁ, aṭṭhaddhamāsasatāni gimhānaṁ, aṭṭhaddhamāsasatāni vassānaṁ.
Catuvīsati kho pana, bhikkhave, addhamāsasatāni jīvanto chattiṁsaṁyeva rattisahassāni jīvati—
dvādasa rattisahassāni hemantānaṁ, dvādasa rattisahassāni gimhānaṁ, dvādasa rattisahassāni vassānaṁ.
Chattiṁsaṁ kho pana, bhikkhave, rattisahassāni jīvanto dvesattatiyeva bhattasahassāni bhuñjati—
catuvīsati bhattasahassāni hemantānaṁ, catuvīsati bhattasahassāni gimhānaṁ, catuvīsati bhattasahassāni vassānaṁ saddhiṁ mātuthaññāya saddhiṁ bhattantarāyena.
Tatrime bhattantarāyā kapimiddhopi bhattaṁ na bhuñjati, dukkhitopi bhattaṁ na bhuñjati, byādhitopi bhattaṁ na bhuñjati, uposathikopi bhattaṁ na bhuñjati, alābhakenapi bhattaṁ na bhuñjati.
Iti kho, bhikkhave, mayā vassasatāyukassa manussassa āyupi saṅkhāto, āyuppamāṇampi saṅkhātaṁ, utūpi saṅkhātā, saṁvaccharāpi saṅkhātā, māsāpi saṅkhātā, addhamāsāpi saṅkhātā, rattipi saṅkhātā, divāpi saṅkhātā, bhattāpi saṅkhātā, bhattantarāyāpi saṅkhātā.
Yaṁ, bhikkhave, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya;
kataṁ vo taṁ mayā etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni etāni suññāgārāni. Jhāyatha, bhikkhave, mā pamādattha; mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
Dasamaṁ.
Mahāvaggo sattamo.
Tassuddānaṁ
Hirīsūriyaṁ upamā,
dhammaññū pārichattakaṁ;
Sakkaccaṁ bhāvanā aggi,
sunettaarakena cāti.
“Once, monks, there was a teacher named Araka, a sectarian leader who was free of passion for sensual pleasures. He had many hundreds of students and he taught them the Dhamma in this way: ‘Next to nothing, brahmans, is the life of human beings—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.
“‘Just as a dewdrop on the tip of a blade of grass quickly vanishes with the rising of the sun and does not stay long, in the same way, brahmans, the life of human beings is like a dewdrop—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.
“‘Just as when the rain-devas send rain in fat drops, and a bubble on the water quickly vanishes and does not stay long, in the same way, brahmans, the life of human beings is like a water bubble—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.
“‘Just as a line drawn in the water with a stick quickly vanishes and does not stay long, in the same way, brahmans, the life of human beings is like a line drawn in the water with a stick—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.
“‘Just as a river flowing down from the mountains, going far, its current swift, carrying everything with it, so that there is not a moment, an instant, a second where it stands still, but instead it goes & rushes & flows, in the same way, brahmans, the life of human beings is like a river flowing down from the mountains—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.
“‘Just as a strong man forming a drop of spit on the tip of his tongue would spit it out with little effort, in the same way, brahmans, the life of human beings is like a drop of spit—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.
“‘Just as a sliver of meat thrown into an iron pan heated all day quickly vanishes and does not stay long, in the same way, brahmans, the life of human beings is like a sliver of meat—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.
“‘Just as a cow to be slaughtered being led to the slaughterhouse, with every step of its foot closer to its slaughtering, closer to death, in the same way, brahmans, the life of human beings is like a cow to be slaughtered—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.’
“Now at that time, monks, the human life span was 60,000 years, with girls marriageable at 500. And at that time there were [only] six afflictions: cold, heat, hunger, thirst, defecation, & urination. Yet even though people were so long-lived, long-lasting, with so few afflictions, that teacher Araka taught the Dhamma to his disciples in this way: ‘Next to nothing, brahmans, is the life of human beings—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.’
“At present, monks, one speaking rightly would say, ‘Next to nothing is the life of human beings—limited, trifling, of much stress & many despairs. One should touch this [truth] like a sage, do what is skillful, follow the holy life. For one who is born there is no freedom from death.’ At present, monks, one who lives a long time is 100 years old or a little bit more. Living 100 years, one lives for 300 seasons: 100 seasons of cold, 100 seasons of heat, 100 seasons of rain. Living for 300 seasons, one lives for 1,200 months: 400 months of cold, 400 months of heat, 400 months of rain. Living for 1,200 months, one lives for 2,400 fortnights: 800 fortnights of cold, 800 fortnights of heat, 800 fortnights of rain. Living for 2,400 fortnights, one lives for 36,000 days: 12,000 days of cold, 12,000 days of heat, 12,000 days of rain. Living for 36,000 days, one eats 72,000 meals: 24,000 meals in the cold, 24,000 meals in the heat, 24,000 meals in the rain—counting the taking of mother’s milk and obstacles to eating. These are the obstacles to eating: when one doesn’t eat while angered, when one doesn’t eat while suffering or stressed, when one doesn’t eat while sick, when one doesn’t eat on the observance day, when one doesn’t eat while poor.
“Thus, monks, I have reckoned the life of a person living for 100 years: I have reckoned the life span, reckoned the seasons, reckoned the years, reckoned the months, reckoned the fortnights, reckoned the nights, reckoned the days, reckoned the meals, reckoned the obstacles to eating. Whatever a teacher should do—seeking the welfare of his disciples, out of sympathy for them—that have I done for you. Over there are the roots of trees; over there, empty dwellings. Practice jhana, monks. Don’t be heedless. Don’t later fall into regret. This is our message to you all.”
TTC 1—Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có Ðạo sư tên là Araka thuộc ngoại đạo đã ly tham đối với các dục. Này các Tỷ-kheo, Ðạo sư Araka có đến hàng trăm đệ tử. Ðạo sư Araka thuyết pháp cho các đệ tử như sau:
TTC 2“ Này Bà-la-môn, ít oi là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời mọc, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, như giọt sương là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, khi trời mưa nặng hạt, bong bóng nước trên nước mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, như bong bóng nước là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con sông trên núi chảy xa, dòng nước chảy nhanh, lôi cuốn theo vật này vật khác, không có sát-na nào, không có giây phút nào, không có thời khắc nào có dừng nghỉ, nó phải chảy tới, cuồn cuộn chảy, thúc đẩy chảy tới. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như con sông ấy là đời sống của loài Người, nhỏ bé, không đáng kể… Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, người lực sĩ tụ lại một cục nước miếng trên đầu lưỡi và nhổ đi không có phí sức. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví dụ với cục nước miếng là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể… Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, một miếng thịt được quăng vào một nồi sắt được hâm nóng cả ngày, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví như miếng thịt là đời sống con người, nhỏ bé, không đáng kể… Với người đã sanh, không có bất tử. Ví như, này Bà-la-môn, con bò cái sắp bị giết, được dắt đến lò thịt, mỗi bước chân giơ lên là bước gần đến bị giết, gần đến chết. Cũng vậy, này Bà-la-môn, ví dụ với con bò cái sắp bị giết là đời sống con người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ, hãy làm điều lành, hãy sống Phạm hạnh. Với người đã sanh, không có bất tử”.
TTC 3Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, tuổi thọ của loài Người lên đến 60.000 năm. Người con gái 500 tuổi có thể đến tuổi lấy chồng. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, loài Người có sáu loại bệnh: lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện. Này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư Araka ấy, với loài Người thọ mạng dài như vậy, sống lâu như vậy, ít bệnh như vậy, lại thuyết pháp cho các đệ tử như vậy: “Ít oi, này Bà-la-môn, là đời sống loài Người, nhỏ bé không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với bùa chú, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, sống đời Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử”. Nay, này các Tỷ-kheo, ai nói một cách chơn chánh, phải nói như sau: “Ít oi, là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não. Với trí tuệ, hãy giác ngộ! Hãy làm điều lành, hãy sống Phạm hạnh! Với người đã sanh, không có bất tử”. Nay, này các Tỷ-kheo, ai sống lâu, vị ấy sống một trăm tuổi, ít hơn hay nhiều hơn. Mạng sống 100 tuổi, này các Tỷ-kheo, được chia thành 300 mùa: một trăm mùa đông, một trăm mùa hạ, một trăm mùa mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống ba trăm mùa, người ấy sống 12 lần 100 tháng: 400 tháng lạnh, 400 tháng nóng, 400 tháng mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 12 lần 100 tháng, người ấy sống 24 lần một trăm nửa tháng: 800 nửa tháng lạnh, 800 nửa tháng nóng, 800 nửa tháng mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 24 lần một trăm nửa tháng, người ấy sống 36 lần 1000 đêm: 12.000 đêm lạnh, 12.000 đêm nóng, 12.000 đêm mưa. Này các Tỷ-kheo, dầu cho sống 36 lần 1000 đêm, người ấy ăn chỉ có 72 ngàn bữa cơm: 24 ngàn bữa cơm vào mùa lạnh, 24 ngàn bữa cơm vào mùa nóng, 24 ngàn bữa cơm vào mùa mưa. Ðây gồm có với sữa mẹ và thời gian không có đồ ăn. Ở đây, có những khi không có bữa ăn này, nghĩa là tức giận không ăn cơm, khổ đau không ăn cơm, bịnh hoạn không ăn cơm, trai giới không ăn cơm, không thâu hoạch được, không ăn cơm.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, tuổi thọ một trăm năm của loài Người được Ta gọi là tuổi thọ, được gọi là lượng của tuổi thọ, được gọi là thời tiết, được gọi là năm, được gọi là tháng, được gọi là nửa tháng, được gọi là đêm, được gọi là đêm ngày, được gọi là bữa ăn, được gọi là giữa bữa ăn.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, những gì bậc Ðạo sư phải làm, vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đệ tử, những việc ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng các Thầy. Này các Tỷ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà không tịnh. Này các Tỷ-kheo, hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ hối tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta cho các Thầy.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, arako nāma satthā ahosi titthakaro kāmesu vītarāgo.
Arakassa kho pana, bhikkhave, satthuno anekāni sāvakasatāni ahesuṁ.
Arako satthā sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti:
‘appakaṁ, brāhmaṇa, jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, tiṇagge ussāvabindu sūriye uggacchante khippaṁyeva paṭivigacchati, na ciraṭṭhitikaṁ hoti;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, ussāvabindūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, thullaphusitake deve vassante udakabubbuḷaṁ khippaṁyeva paṭivigacchati, na ciraṭṭhitikaṁ hoti;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, udakabubbuḷūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, udake daṇḍarāji khippaṁyeva paṭivigacchati, na ciraṭṭhitikā hoti;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, udake daṇḍarājūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ …pe…
natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, nadī pabbateyyā dūraṅgamā sīghasotā hārahārinī, natthi so khaṇo vā layo vā muhutto vā yaṁ sā āvattati, atha kho sā gacchateva vattateva sandateva;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, nadīpabbateyyūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ …pe…
natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, balavā puriso jivhagge kheḷapiṇḍaṁ saṁyūhitvā akasireneva vameyya;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, kheḷapiṇḍūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ …pe…
natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, divasaṁsantatte ayokaṭāhe maṁsapesi pakkhittā khippaṁyeva paṭivigacchati, na ciraṭṭhitikā hoti;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, maṁsapesūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ …pe…
natthi jātassa amaraṇaṁ.
Seyyathāpi, brāhmaṇa, gāvī vajjhā āghātanaṁ nīyamānā yaṁ yadeva pādaṁ uddharati, santikeva hoti vadhassa santikeva maraṇassa;
evamevaṁ kho, brāhmaṇa, govajjhūpamaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇan’ti.
Tena kho pana, bhikkhave, samayena manussānaṁ saṭṭhivassasahassāni āyuppamāṇaṁ ahosi, pañcavassasatikā kumārikā alaṁpateyyā ahosi.
Tena kho pana, bhikkhave, samayena manussānaṁ chaḷeva ābādhā ahesuṁ—
sītaṁ, uṇhaṁ, jighacchā, pipāsā, uccāro, passāvo.
So hi nāma, bhikkhave, arako satthā evaṁ dīghāyukesu manussesu evaṁ ciraṭṭhitikesu evaṁ appābādhesu sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desessati:
‘appakaṁ, brāhmaṇa, jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇan’ti.
Etarahi taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
‘appakaṁ jīvitaṁ manussānaṁ parittaṁ lahukaṁ bahudukkhaṁ bahupāyāsaṁ mantāyaṁ boddhabbaṁ, kattabbaṁ kusalaṁ, caritabbaṁ brahmacariyaṁ, natthi jātassa amaraṇan’ti.
Etarahi, bhikkhave, yo ciraṁ jīvati so vassasataṁ appaṁ vā bhiyyo.
Vassasataṁ kho pana, bhikkhave, jīvanto tīṇiyeva utusatāni jīvati—
utusataṁ hemantānaṁ, utusataṁ gimhānaṁ, utusataṁ vassānaṁ.
Tīṇi kho pana, bhikkhave, utusatāni jīvanto dvādasayeva māsasatāni jīvati—
cattāri māsasatāni hemantānaṁ, cattāri māsasatāni gimhānaṁ, cattāri māsasatāni vassānaṁ.
Dvādasa kho pana, bhikkhave, māsasatāni jīvanto catuvīsatiyeva addhamāsasatāni jīvati—
aṭṭhaddhamāsasatāni hemantānaṁ, aṭṭhaddhamāsasatāni gimhānaṁ, aṭṭhaddhamāsasatāni vassānaṁ.
Catuvīsati kho pana, bhikkhave, addhamāsasatāni jīvanto chattiṁsaṁyeva rattisahassāni jīvati—
dvādasa rattisahassāni hemantānaṁ, dvādasa rattisahassāni gimhānaṁ, dvādasa rattisahassāni vassānaṁ.
Chattiṁsaṁ kho pana, bhikkhave, rattisahassāni jīvanto dvesattatiyeva bhattasahassāni bhuñjati—
catuvīsati bhattasahassāni hemantānaṁ, catuvīsati bhattasahassāni gimhānaṁ, catuvīsati bhattasahassāni vassānaṁ saddhiṁ mātuthaññāya saddhiṁ bhattantarāyena.
Tatrime bhattantarāyā kapimiddhopi bhattaṁ na bhuñjati, dukkhitopi bhattaṁ na bhuñjati, byādhitopi bhattaṁ na bhuñjati, uposathikopi bhattaṁ na bhuñjati, alābhakenapi bhattaṁ na bhuñjati.
Iti kho, bhikkhave, mayā vassasatāyukassa manussassa āyupi saṅkhāto, āyuppamāṇampi saṅkhātaṁ, utūpi saṅkhātā, saṁvaccharāpi saṅkhātā, māsāpi saṅkhātā, addhamāsāpi saṅkhātā, rattipi saṅkhātā, divāpi saṅkhātā, bhattāpi saṅkhātā, bhattantarāyāpi saṅkhātā.
Yaṁ, bhikkhave, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya;
kataṁ vo taṁ mayā etāni, bhikkhave, rukkhamūlāni etāni suññāgārāni. Jhāyatha, bhikkhave, mā pamādattha; mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
Dasamaṁ.
Mahāvaggo sattamo.
Tassuddānaṁ
Hirīsūriyaṁ upamā,
dhammaññū pārichattakaṁ;
Sakkaccaṁ bhāvanā aggi,
sunettaarakena cāti.