TTC 1—Trước khi Ta giác ngộ, này các Tỷ-kheo, khi Ta chưa Chánh đẳng Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta đã tu tập năm pháp, làm cho sung mãn năm pháp. Thế nào là năm?
TTC 2Ta đã tu tập thần túc câu hữu với dục định tinh cần hành, đã tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành, đã tu tập thần túc câu hữu với tâm định tinh cần hành, đã tu tập thần túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành, và thứ năm là tăng thượng tinh tấn. Này các Tỷ-kheo, do Ta tu tập và làm cho sung mãn các pháp với tăng thượng tinh tấn là thứ năm, tùy theo Ta hướng tâm đến pháp nào cần được chứng ngộ với thắng trí, để có thể chứng ngộ với thắng trí, Ta có thể đạt đến pháp ấy, dầu thuộc hành xứ nào. Nếu Ta muốn, Ta có thể chứng được nhiều loại thần thông, tự thân có thể đạt được phạm thiên giới. Ở đây Ta có thể đạt đến pháp ấy, dầu thuộc hành xứ nào. Nếu Ta muốn… do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí, Ta tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tại đấy, Ta có thể đạt đến pháp ấy, dầu thuộc hành xứ nào.
“Pubbevāhaṁ, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno pañca dhamme bhāvesiṁ, pañca dhamme bahulīkāsiṁ.
Katame pañca?
Chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāvesiṁ,
vīriyasamādhi …
cittasamādhi …
vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāvesiṁ,
ussoḷhiññeva pañcamiṁ.
So kho ahaṁ, bhikkhave, imesaṁ ussoḷhipañcamānaṁ dhammānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmesiṁ abhiññāsacchikiriyāya,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇiṁ sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhiṁ: ‘anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhaveyyaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇiṁ sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhiṁ …pe… ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇiṁ sati sati āyatane”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Mendicants, before my awakening—when I was still not awake but intent on awakening—I developed and cultivated five things.
What five?
The basis of psychic power that has immersion due to enthusiasm, and active effort …
the basis of psychic power that has immersion due to energy, and active effort …
the basis of psychic power that has immersion due to mental development, and active effort …
the basis of psychic power that has immersion due to inquiry, and active effort.
And the fifth is sheer vigor.
When I had developed and cultivated these five things, with vigor as fifth,
I extended the mind to realize by insight each and every thing that can be realized by insight; and I was capable of realizing those things, since each and every one was within range.
If I wished: ‘May I multiply myself and become one again … controlling the body as far as the realm of divinity.’
I was capable of realizing it, since each and every one is within range.
If I wished: … ‘May I realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life, and live having realized it with my own insight due to the ending of defilements.’
I was capable of realizing it, since each and every one is within range.”
TTC 1—Trước khi Ta giác ngộ, này các Tỷ-kheo, khi Ta chưa Chánh đẳng Chánh giác, còn là Bồ-tát, Ta đã tu tập năm pháp, làm cho sung mãn năm pháp. Thế nào là năm?
TTC 2Ta đã tu tập thần túc câu hữu với dục định tinh cần hành, đã tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành, đã tu tập thần túc câu hữu với tâm định tinh cần hành, đã tu tập thần túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành, và thứ năm là tăng thượng tinh tấn. Này các Tỷ-kheo, do Ta tu tập và làm cho sung mãn các pháp với tăng thượng tinh tấn là thứ năm, tùy theo Ta hướng tâm đến pháp nào cần được chứng ngộ với thắng trí, để có thể chứng ngộ với thắng trí, Ta có thể đạt đến pháp ấy, dầu thuộc hành xứ nào. Nếu Ta muốn, Ta có thể chứng được nhiều loại thần thông, tự thân có thể đạt được phạm thiên giới. Ở đây Ta có thể đạt đến pháp ấy, dầu thuộc hành xứ nào. Nếu Ta muốn… do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí, Ta tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tại đấy, Ta có thể đạt đến pháp ấy, dầu thuộc hành xứ nào.
“Pubbevāhaṁ, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno pañca dhamme bhāvesiṁ, pañca dhamme bahulīkāsiṁ.
Katame pañca?
Chandasamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāvesiṁ,
vīriyasamādhi …
cittasamādhi …
vīmaṁsāsamādhipadhānasaṅkhārasamannāgataṁ iddhipādaṁ bhāvesiṁ,
ussoḷhiññeva pañcamiṁ.
So kho ahaṁ, bhikkhave, imesaṁ ussoḷhipañcamānaṁ dhammānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā yassa yassa abhiññāsacchikaraṇīyassa dhammassa cittaṁ abhininnāmesiṁ abhiññāsacchikiriyāya,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇiṁ sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhiṁ: ‘anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhaveyyaṁ …pe… yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇiṁ sati sati āyatane.
So sace ākaṅkhiṁ …pe… ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti,
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇiṁ sati sati āyatane”ti.
Aṭṭhamaṁ.