TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Campà, trên bờ ao Gaggarà. Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita, vào buổi sáng sớm đi ra khỏi Campà, đến yết kiến Thế Tôn. Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang thiền tịnh. Cũng không phải thời để yết kiến các Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo đang tu tập về ý đang thiền tịnh. Vậy hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo” Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.
TTC 2Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp, ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Vajjiyamàhita từ xa đi đến, khi thấy vậy, liền dặn dò bảo với nhau: “Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả, chớ làm ồn, các Tôn giả, Gia chủ Vajjiyamàhita này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, có gia đình, mặc áo trắng ở Campà. Gia chủ Vajjiyamàhita là một trong những vị ấy, các vị ấy ưa ít ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây.” Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng.
TTC 3Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita đi đến các du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Vajjiyamàhita đang ngồi một bên:
—Có đúng sự thật chăng này Gia chủ, Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, nhất hướng bài bác, chống đối mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ?
—Thưa các Tôn giả, Thế Tôn không chỉ trích mọi khổ hạnh, không nhất hướng bài bác, chống đối mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ. Thưa các Tôn giả, Thế Tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán. Thưa các Tôn giả, Thế Tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán, như vậy Thế Tôn là người phân tích luận, không phải là người nhất hướng luận (nói một chiều).
TTC 4Ðược nói vậy, một du sĩ nói với Gia chủ Vajjiyamàhita: “Thôi chờ ở đây, này Gia chủ, Gia chủ tán thán Sa-môn Gotama và Sa-môn Gotama là người hư vô, một người không bao giờ có định nghĩa rõ ràng”.
—Ở đây, thưa các Tôn giả, tôi nói với các Tôn giả, tôi nói với các Tôn giả đúng pháp: “Đây là thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa. Ðây là bất thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa. Ðây là thiện, đây là bất thiện, Thế Tôn đã định nghĩa. Thế Tôn là người có định nghĩa rõ ràng. Thế Tôn không phải là người chủ trương hư vô, không phải là người không có định nghĩa rõ ràng”. Khi được nói vậy, các du sĩ ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói nên lời.
TTC 5Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita, sau khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói nên lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Gia chủ Vajjiyamàhita, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo như thế nào, tất cả đều thuật lại cho Thế Tôn rõ.
TTC 6—Lành thay, lành thay, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường thường cần phải được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp. Này Gia chủ, Ta không nói rằng tất cả khổ hạnh cần phải hành trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì cần phải được chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì không nên chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự tinh cần phải tinh cần. Này Gia chủ, ta cũng không nói rằng, tất cả sự tinh cần không nên tinh cần. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự từ bỏ nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự từ bỏ không nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự giải thoát nên giải thoát. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự giải thoát không nên giải thoát.
TTC 7Này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, khổ hạnh ấy, Ta nói, không nên hành trì. Nhưng này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, khổ hạnh ấy, Ta nói nên hành trì. Này Gia chủ, phàm chấp trì nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, chấp trì ấy, Ta nói, không nên chấp trì. Phàm chấp trì nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng, thời chấp trì ấy, Ta nói nên chấp trì. Này Gia chủ, phàm tinh cần nào được tinh cần, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời tinh cần ấy, Ta nói rằng, không nên tinh cần. Phàm tinh cần nào được tinh cần, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời tinh cần ấy, Ta nói nên tinh cần. Này Gia chủ, phàm từ bỏ sự từ bỏ nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời từ bỏ ấy, Ta nói, không nên từ bỏ. Phàm từ bỏ sự từ bỏ nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời từ bỏ ấy, Ta nói, nên từ bỏ. Này Gia chủ, phàm giải thoát sự giải thoát nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp tổn giảm, thời giải thoát ấy, Ta nói, không nên giải thoát. Phàm giải thoát sự giải thoát nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời giải thoát ấy, Ta nói nên giải thoát.
Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita sau khi được Thế Tôn với một pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 8Rồi Thế Tôn, sau khi Gia chủ Vajjiyamàhita ra đi không bao lâu, bảo các Tỷ-kheo:
—Phàm Tỷ-kheo nào, đã lâu ngày với trần cấu ít trong Pháp và Luật này, vị ấy hãy như vậy bài bác các du sĩ ngoại đạo với sự khéo bài bác nhờ Chánh pháp, như Gia chủ Vajjiyamàhita đã làm.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā campāyaṁ viharati gaggarāya pokkharaṇiyā tīre.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati divā divassa campāya nikkhami bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho vajjiyamāhitassa gahapatissa etadahosi:
“akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya.
Paṭisallīno bhagavā.
Manobhāvanīyānampi bhikkhūnaṁ akālo dassanāya.
Paṭisallīnā manobhāvanīyāpi bhikkhū.
Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena te aññatitthiyā paribbājakā saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā nisinnā honti.
Addasaṁsu kho te aññatitthiyā paribbājakā vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna aññamaññaṁ saṇṭhāpesuṁ:
“appasaddā bhonto hontu. Mā bhonto saddamakattha.
Ayaṁ vajjiyamāhito gahapati āgacchati samaṇassa gotamassa sāvako.
Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā campāyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro vajjiyamāhito gahapati.
Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino.
Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Atha kho te aññatitthiyā paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati yena te aññatitthiyā paribbājakā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“saccaṁ kira, gahapati, samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhājīviṁ ekaṁsena upakkosati upavadatī”ti?
“Na kho, bhante, bhagavā sabbaṁ tapaṁ garahati napi sabbaṁ tapassiṁ lūkhājīviṁ ekaṁsena upakkosati upavadati.
Gārayhaṁ kho, bhante, bhagavā garahati, pasaṁsitabbaṁ pasaṁsati.
Gārayhaṁ kho pana, bhante, bhagavā garahanto pasaṁsitabbaṁ pasaṁsanto vibhajjavādo bhagavā.
Na so bhagavā ettha ekaṁsavādo”ti.
Evaṁ vutte, aññataro paribbājako vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“āgamehi tvaṁ, gahapati, yassa tvaṁ samaṇassa gotamassa vaṇṇaṁ bhāsati, samaṇo gotamo venayiko appaññattiko”ti?
“Etthapāhaṁ, bhante, āyasmante vakkhāmi sahadhammena:
‘idaṁ kusalan’ti, bhante, bhagavatā paññattaṁ;
‘idaṁ akusalan’ti, bhante, bhagavatā paññattaṁ.
Iti kusalākusalaṁ bhagavā paññāpayamāno sapaññattiko bhagavā;
na so bhagavā venayiko appaññattiko”ti.
Evaṁ vutte te paribbājakā tuṇhībhūtā maṅkubhūtā pattakkhandhā adhomukhā pajjhāyantā appaṭibhānā nisīdiṁsu.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati te paribbājake tuṇhībhūte maṅkubhūte pattakkhandhe adhomukhe pajjhāyante appaṭibhāne viditvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho vajjiyamāhito gahapati yāvatako ahosi tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Sādhu sādhu, gahapati.
Evaṁ kho te, gahapati, moghapurisā kālena kālaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetabbā.
Nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ tapaṁ tapitabbanti vadāmi;
na ca panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ tapaṁ na tapitabbanti vadāmi;
nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ samādānaṁ samāditabbanti vadāmi;
na panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ samādānaṁ na samāditabbanti vadāmi;
nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ padhānaṁ padahitabbanti vadāmi;
na panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ padhānaṁ na padahitabbanti vadāmi;
nāhaṁ, gahapati, sabbo paṭinissaggo paṭinissajjitabboti vadāmi.
Na panāhaṁ, gahapati, sabbo paṭinissaggo na paṭinissajjitabboti vadāmi;
nāhaṁ, gahapati, sabbā vimutti vimuccitabbāti vadāmi;
na panāhaṁ, gahapati, sabbā vimutti na vimuccitabbāti vadāmi.
Yañhi, gahapati, tapaṁ tapato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ tapaṁ na tapitabbanti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, tapaṁ tapato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ tapaṁ tapitabbanti vadāmi.
Yañhi, gahapati, samādānaṁ samādiyato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ samādānaṁ na samāditabbanti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, samādānaṁ samādiyato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ samādānaṁ samāditabbanti vadāmi.
Yañhi, gahapati, padhānaṁ padahato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ padhānaṁ na padahitabbanti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, padhānaṁ padahato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ padhānaṁ padahitabbanti vadāmi.
Yañhi, gahapati, paṭinissaggaṁ paṭinissajjato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo paṭinissaggo na paṭinissajjitabboti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, paṭinissaggaṁ paṭinissajjato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpo paṭinissaggo paṭinissajjitabboti vadāmi.
Yañhi, gahapati, vimuttiṁ vimuccato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpā vimutti na vimuccitabbāti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, vimuttiṁ vimuccato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpā vimutti vimuccitabbāti vadāmī”ti.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante vajjiyamāhite gahapatimhi bhikkhū āmantesi:
“yopi so, bhikkhave, bhikkhu dīgharattaṁ apparajakkho imasmiṁ dhammavinaye, sopi evamevaṁ aññatitthiye paribbājake sahadhammena suniggahitaṁ niggaṇheyya yathā taṁ vajjiyamāhitena gahapatinā niggahitā”ti.
Catutthaṁ.
I have heard that on one occasion the Blessed One was staying near Campa, on the shore of Gaggara Lake. Then Vajjiya Mahita the householder left Campa in the middle of the day to see the Blessed One, but the thought then occurred to him, “Now is not the right time to see the Blessed One, for he is in seclusion. And it is not the right time to see the monks who develop the mind, for they are in seclusion. What if I were to visit the park of the wanderers of other persuasions?” So he headed to the park of the wanderers of other persuasions.
Now on that occasion the wanderers of other persuasions had come together in a gathering and were sitting, discussing many kinds of bestial topics, making a great noise & racket. They saw Vajjiya Mahita the householder coming from afar, and on seeing him, hushed one another: “Be quiet, good sirs. Don’t make any noise. Here comes Vajjiya Mahita the householder, a disciple of Gotama the contemplative. He is one of those disciples of Gotama the contemplative, clad in white, who lives in Savatthi. These people are fond of quietude and speak in praise of quietude. Maybe, if he perceives our group as quiet, he will consider it worth his while to come our way.” So the wanderers fell silent.
Then Vajjiya Mahita the householder went to where the wanderers of other persuasions were staying. On arrival he greeted them courteously. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, the wanderers said to him, “Is it true, householder, that Gotama the contemplative criticizes all asceticism, that he categorically denounces & disparages all ascetics who live the rough life?”
“No, venerable sirs, the Blessed One does not criticize all asceticism, nor does he categorically denounce or disparage all ascetics who live the rough life. The Blessed One criticizes what should be criticized, and praises what should be praised. Criticizing what should be criticized, praising what should be praised, the Blessed One is one who speaks making distinctions, not one who speaks categorically on this matter.”
When this was said, one of the wanderers said to Vajjiya Mahita the householder, “Now wait a minute, householder. This contemplative Gotama whom you praise is a nihilist, one who doesn’t declare anything.”
“I tell you, venerable sirs, that the Blessed One righteously declares that ‘This is skillful.’ He declares that ‘This is unskillful.’ Declaring that ‘This is skillful’ and ‘This is unskillful,’ he is one who has declared [a teaching]. He is not a nihilist, one who doesn’t declare anything.”
When this was said, the wanderers fell silent, abashed, sitting with their shoulders drooping, their heads down, brooding, at a loss for words. Vajjiya Mahita the householder, perceiving that the wanderers were silent, abashed… at a loss for words, got up & went to the Blessed One. On arrival, having bowed down to the Blessed One, he sat to one side. As he was sitting there, he told the Blessed One the entirety of his conversation with the wanderers.
[The Blessed One said:] “Well done, householder. Well done. That is how you should periodically & righteously refute those foolish men. I don’t say that all asceticism is to be pursued, nor do I say that all asceticism is not to be pursued. I don’t say that all observances should be observed, nor do I day that all observances should not be observed. I don’t say that all exertions are to be pursued, nor do I say that all exertions are not to be pursued. I don’t say that all forfeiture should be forfeited, nor do I say that all forfeiture should not be forfeited. I don’t say that all release is to be used for release, nor do I say that all release is not to be used for release.
“If, when an asceticism is pursued, unskillful qualities grow and skillful qualities wane, then I tell you that that sort of asceticism is not to be pursued. But if, when an asceticism is pursued, unskillful qualities wane and skillful qualities grow, then I tell you that that sort of asceticism is to be pursued.
“If, when an observance is observed, unskillful qualities grow and skillful qualities wane, then I tell you that that sort of observance is not to be observed. But if, when an observance is observed, unskillful qualities wane and skillful qualities grow, then I tell you that that sort of observance is to be observed.
“If, when an exertion is pursued… a forfeiture is forfeited…
“If, when a release is used for release, unskillful qualities grow and skillful qualities wane, then I tell you that that sort of release is not to be used for release. But if, when a release is used for release, unskillful qualities wane and skillful qualities grow, then I tell you that that sort of release is to be used for release.”
When Vajjiya Mahita the householder had been instructed, urged, roused & encouraged by the Blessed One with a talk on Dhamma, he got up from his seat and, having bowed down to the Blessed One, left, keeping the Blessed One on his right side. Not long afterward, the Blessed One addressed the monks: “Monks, even a monk who has long penetrated the Dhamma in this Doctrine & Discipline would do well periodically & righteously to refute the wanderers of other persuasions in just the way Vajjiya Mahita the householder has done.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Campà, trên bờ ao Gaggarà. Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita, vào buổi sáng sớm đi ra khỏi Campà, đến yết kiến Thế Tôn. Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita suy nghĩ: “Nay không phải thời để yết kiến Thế Tôn, Thế Tôn đang thiền tịnh. Cũng không phải thời để yết kiến các Tỷ-kheo đang tu tập về ý, các Tỷ-kheo đang tu tập về ý đang thiền tịnh. Vậy hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo” Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo.
TTC 2Lúc bấy giờ, các du sĩ ngoại đạo đang ngồi hội họp, đang tụ họp, ồn ào, cao tiếng, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm. Các du sĩ ngoại đạo ấy thấy Gia chủ Vajjiyamàhita từ xa đi đến, khi thấy vậy, liền dặn dò bảo với nhau: “Hãy bớt ồn ào, các Tôn giả, chớ làm ồn, các Tôn giả, Gia chủ Vajjiyamàhita này đang đến, một đệ tử của Sa-môn Gotama, có gia đình, mặc áo trắng ở Campà. Gia chủ Vajjiyamàhita là một trong những vị ấy, các vị ấy ưa ít ồn ào, được huấn luyện trong ít ồn ào, tán thán ít ồn ào. Nếu vị ấy thấy hội chúng ít ồn ào, vị ấy có thể nghĩ đến thăm ở đây.” Rồi các du sĩ ngoại đạo ấy giữ im lặng.
TTC 3Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita đi đến các du sĩ ngoại đạo ấy; sau khi đến, nói lên với các du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với Gia chủ Vajjiyamàhita đang ngồi một bên:
—Có đúng sự thật chăng này Gia chủ, Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, nhất hướng bài bác, chống đối mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ?
—Thưa các Tôn giả, Thế Tôn không chỉ trích mọi khổ hạnh, không nhất hướng bài bác, chống đối mọi khổ hạnh, mọi nếp sống kham khổ. Thưa các Tôn giả, Thế Tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán. Thưa các Tôn giả, Thế Tôn chỉ trích cái gì đáng chỉ trích, tán thán cái gì đáng tán thán, như vậy Thế Tôn là người phân tích luận, không phải là người nhất hướng luận (nói một chiều).
TTC 4Ðược nói vậy, một du sĩ nói với Gia chủ Vajjiyamàhita: “Thôi chờ ở đây, này Gia chủ, Gia chủ tán thán Sa-môn Gotama và Sa-môn Gotama là người hư vô, một người không bao giờ có định nghĩa rõ ràng”.
—Ở đây, thưa các Tôn giả, tôi nói với các Tôn giả, tôi nói với các Tôn giả đúng pháp: “Đây là thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa. Ðây là bất thiện, thưa các Tôn giả, Thế Tôn đã định nghĩa. Ðây là thiện, đây là bất thiện, Thế Tôn đã định nghĩa. Thế Tôn là người có định nghĩa rõ ràng. Thế Tôn không phải là người chủ trương hư vô, không phải là người không có định nghĩa rõ ràng”. Khi được nói vậy, các du sĩ ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói nên lời.
TTC 5Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita, sau khi biết các du sĩ ngoại đạo ấy im lặng, hoang mang, thụt vai, cúi đầu, sửng sờ, không nói nên lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Gia chủ Vajjiyamàhita, câu chuyện với các du sĩ ngoại đạo như thế nào, tất cả đều thuật lại cho Thế Tôn rõ.
TTC 6—Lành thay, lành thay, này Gia chủ, những kẻ ngu si ấy thường thường cần phải được bác bỏ với sự khéo bác bỏ nhờ Chánh pháp. Này Gia chủ, Ta không nói rằng tất cả khổ hạnh cần phải hành trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì cần phải được chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự chấp trì không nên chấp trì. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự tinh cần phải tinh cần. Này Gia chủ, ta cũng không nói rằng, tất cả sự tinh cần không nên tinh cần. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự từ bỏ nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự từ bỏ không nên từ bỏ. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng tất cả sự giải thoát nên giải thoát. Này Gia chủ, Ta cũng không nói rằng, tất cả sự giải thoát không nên giải thoát.
TTC 7Này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, khổ hạnh ấy, Ta nói, không nên hành trì. Nhưng này Gia chủ, phàm hành trì khổ hạnh nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, khổ hạnh ấy, Ta nói nên hành trì. Này Gia chủ, phàm chấp trì nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, chấp trì ấy, Ta nói, không nên chấp trì. Phàm chấp trì nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các thiện pháp tăng trưởng, thời chấp trì ấy, Ta nói nên chấp trì. Này Gia chủ, phàm tinh cần nào được tinh cần, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời tinh cần ấy, Ta nói rằng, không nên tinh cần. Phàm tinh cần nào được tinh cần, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời tinh cần ấy, Ta nói nên tinh cần. Này Gia chủ, phàm từ bỏ sự từ bỏ nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện tổn giảm, thời từ bỏ ấy, Ta nói, không nên từ bỏ. Phàm từ bỏ sự từ bỏ nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời từ bỏ ấy, Ta nói, nên từ bỏ. Này Gia chủ, phàm giải thoát sự giải thoát nào, các pháp bất thiện tăng trưởng, các thiện pháp tổn giảm, thời giải thoát ấy, Ta nói, không nên giải thoát. Phàm giải thoát sự giải thoát nào, các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, thời giải thoát ấy, Ta nói nên giải thoát.
Rồi Gia chủ Vajjiyamàhita sau khi được Thế Tôn với một pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
TTC 8Rồi Thế Tôn, sau khi Gia chủ Vajjiyamàhita ra đi không bao lâu, bảo các Tỷ-kheo:
—Phàm Tỷ-kheo nào, đã lâu ngày với trần cấu ít trong Pháp và Luật này, vị ấy hãy như vậy bài bác các du sĩ ngoại đạo với sự khéo bài bác nhờ Chánh pháp, như Gia chủ Vajjiyamàhita đã làm.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā campāyaṁ viharati gaggarāya pokkharaṇiyā tīre.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati divā divassa campāya nikkhami bhagavantaṁ dassanāya.
Atha kho vajjiyamāhitassa gahapatissa etadahosi:
“akālo kho tāva bhagavantaṁ dassanāya.
Paṭisallīno bhagavā.
Manobhāvanīyānampi bhikkhūnaṁ akālo dassanāya.
Paṭisallīnā manobhāvanīyāpi bhikkhū.
Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena te aññatitthiyā paribbājakā saṅgamma samāgamma unnādino uccāsaddamahāsaddā anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentā nisinnā honti.
Addasaṁsu kho te aññatitthiyā paribbājakā vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ dūratova āgacchantaṁ. Disvāna aññamaññaṁ saṇṭhāpesuṁ:
“appasaddā bhonto hontu. Mā bhonto saddamakattha.
Ayaṁ vajjiyamāhito gahapati āgacchati samaṇassa gotamassa sāvako.
Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā gihī odātavasanā campāyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro vajjiyamāhito gahapati.
Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino.
Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Atha kho te aññatitthiyā paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati yena te aññatitthiyā paribbājakā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“saccaṁ kira, gahapati, samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhājīviṁ ekaṁsena upakkosati upavadatī”ti?
“Na kho, bhante, bhagavā sabbaṁ tapaṁ garahati napi sabbaṁ tapassiṁ lūkhājīviṁ ekaṁsena upakkosati upavadati.
Gārayhaṁ kho, bhante, bhagavā garahati, pasaṁsitabbaṁ pasaṁsati.
Gārayhaṁ kho pana, bhante, bhagavā garahanto pasaṁsitabbaṁ pasaṁsanto vibhajjavādo bhagavā.
Na so bhagavā ettha ekaṁsavādo”ti.
Evaṁ vutte, aññataro paribbājako vajjiyamāhitaṁ gahapatiṁ etadavoca:
“āgamehi tvaṁ, gahapati, yassa tvaṁ samaṇassa gotamassa vaṇṇaṁ bhāsati, samaṇo gotamo venayiko appaññattiko”ti?
“Etthapāhaṁ, bhante, āyasmante vakkhāmi sahadhammena:
‘idaṁ kusalan’ti, bhante, bhagavatā paññattaṁ;
‘idaṁ akusalan’ti, bhante, bhagavatā paññattaṁ.
Iti kusalākusalaṁ bhagavā paññāpayamāno sapaññattiko bhagavā;
na so bhagavā venayiko appaññattiko”ti.
Evaṁ vutte te paribbājakā tuṇhībhūtā maṅkubhūtā pattakkhandhā adhomukhā pajjhāyantā appaṭibhānā nisīdiṁsu.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati te paribbājake tuṇhībhūte maṅkubhūte pattakkhandhe adhomukhe pajjhāyante appaṭibhāne viditvā uṭṭhāyāsanā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho vajjiyamāhito gahapati yāvatako ahosi tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
“Sādhu sādhu, gahapati.
Evaṁ kho te, gahapati, moghapurisā kālena kālaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetabbā.
Nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ tapaṁ tapitabbanti vadāmi;
na ca panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ tapaṁ na tapitabbanti vadāmi;
nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ samādānaṁ samāditabbanti vadāmi;
na panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ samādānaṁ na samāditabbanti vadāmi;
nāhaṁ, gahapati, sabbaṁ padhānaṁ padahitabbanti vadāmi;
na panāhaṁ, gahapati, sabbaṁ padhānaṁ na padahitabbanti vadāmi;
nāhaṁ, gahapati, sabbo paṭinissaggo paṭinissajjitabboti vadāmi.
Na panāhaṁ, gahapati, sabbo paṭinissaggo na paṭinissajjitabboti vadāmi;
nāhaṁ, gahapati, sabbā vimutti vimuccitabbāti vadāmi;
na panāhaṁ, gahapati, sabbā vimutti na vimuccitabbāti vadāmi.
Yañhi, gahapati, tapaṁ tapato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ tapaṁ na tapitabbanti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, tapaṁ tapato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ tapaṁ tapitabbanti vadāmi.
Yañhi, gahapati, samādānaṁ samādiyato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ samādānaṁ na samāditabbanti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, samādānaṁ samādiyato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ samādānaṁ samāditabbanti vadāmi.
Yañhi, gahapati, padhānaṁ padahato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpaṁ padhānaṁ na padahitabbanti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, padhānaṁ padahato akusalā dhammā parihāyanti kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpaṁ padhānaṁ padahitabbanti vadāmi.
Yañhi, gahapati, paṭinissaggaṁ paṭinissajjato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpo paṭinissaggo na paṭinissajjitabboti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, paṭinissaggaṁ paṭinissajjato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpo paṭinissaggo paṭinissajjitabboti vadāmi.
Yañhi, gahapati, vimuttiṁ vimuccato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti, evarūpā vimutti na vimuccitabbāti vadāmi.
Yañca khvassa, gahapati, vimuttiṁ vimuccato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti, evarūpā vimutti vimuccitabbāti vadāmī”ti.
Atha kho vajjiyamāhito gahapati bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante vajjiyamāhite gahapatimhi bhikkhū āmantesi:
“yopi so, bhikkhave, bhikkhu dīgharattaṁ apparajakkho imasmiṁ dhammavinaye, sopi evamevaṁ aññatitthiye paribbājake sahadhammena suniggahitaṁ niggaṇheyya yathā taṁ vajjiyamāhitena gahapatinā niggahitā”ti.
Catutthaṁ.