TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Ràjagaha, tại núi Gijjhakùta. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát cùng với số đông Tỷ-kheo, từ núi Gijjhakùta đi xuống. Tôn giả thấy tại một chỗ nọ, một đống gỗ to lớn, thấy vậy liền nói với các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả, các Hiền giả có thấy đống gỗ to lớn ấy không?
—Thưa Hiền giả, có thấy.
TTC 2—Nếu muốn, này các Hiền giả, một Tỷ-kheo có thần không, đạt được tâm tự tại có thể quán (Tập Sớ Sallakkheyya: Thắng giải, thiên về, hướng về) đống gỗ ấy thành địa đại. Vì cớ sao? Vì rằng có địa giới trong đống gỗ lớn ấy, y tựa theo đó, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại có thể quán đống gỗ ấy thành địa đại.
TTC 3Nếu muốn, này các Hiền giả, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại, có thể quán đống gỗ lớn ấy thành nước… thành lửa… thành gió… thành tịnh… thành bất tịnh. Vì cớ sao? Vì rằng có bất tịnh trong đống gỗ lớn ấy, y tựa theo đó, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại, có thể quán đống gỗ ấy thành bất tịnh.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasa aññatarasmiṁ padese mahantaṁ dārukkhandhaṁ.
Disvā bhikkhū āmantesi:
“passatha no, āvuso, tumhe amuṁ mahantaṁ dārukkhandhan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Ākaṅkhamāno, āvuso, bhikkhu iddhimā cetovasippatto amuṁ dārukkhandhaṁ pathavītveva adhimucceyya.
Taṁ kissa hetu?
Atthi, āvuso, amumhi dārukkhandhe pathavīdhātu, yaṁ nissāya bhikkhu iddhimā cetovasippatto amuṁ dārukkhandhaṁ pathavītveva adhimucceyya.
Ākaṅkhamāno, āvuso, bhikkhu iddhimā cetovasippatto amuṁ dārukkhandhaṁ āpotveva adhimucceyya …pe…
tejotveva adhimucceyya …
vāyotveva adhimucceyya …
subhantveva adhimucceyya …
asubhantveva adhimucceyya.
Taṁ kissa hetu?
Atthi, āvuso, amumhi dārukkhandhe asubhadhātu, yaṁ nissāya bhikkhu iddhimā cetovasippatto amuṁ dārukkhandhaṁ asubhantveva adhimucceyyā”ti.
Ekādasamaṁ.
I have heard that on one occasion the Blessed One was staying near Rajagaha on Vulture’s Peak Mountain. Then early in the morning, Ven. Sariputta put on his robes and, carrying his bowl and outer robe, was coming down from Vulture’s Peak Mountain with a large group of monks when he saw a large wood pile off to one side. Seeing it, he said to the monks, “Friends, do you see that large wood pile over there?”
“Yes, friend,” the monks replied.
“Friends, if he wanted to, a monk with psychic power, having attained mastery of his mind, could will that wood pile to be nothing but earth. Why is that? There is earth-property in that wood pile, in dependence on which he could will that wood pile to be nothing but earth.
“If he wanted to, a monk with psychic power, having attained mastery of his mind, could will that wood pile to be nothing but water… fire… wind… beautiful… unattractive. Why is that? There is the property of the unattractive in that wood pile, in dependence on which he could will that wood pile to be nothing but unattractive.”
TTC 1Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Ràjagaha, tại núi Gijjhakùta. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát cùng với số đông Tỷ-kheo, từ núi Gijjhakùta đi xuống. Tôn giả thấy tại một chỗ nọ, một đống gỗ to lớn, thấy vậy liền nói với các Tỷ-kheo:
—Này các Hiền giả, các Hiền giả có thấy đống gỗ to lớn ấy không?
—Thưa Hiền giả, có thấy.
TTC 2—Nếu muốn, này các Hiền giả, một Tỷ-kheo có thần không, đạt được tâm tự tại có thể quán (Tập Sớ Sallakkheyya: Thắng giải, thiên về, hướng về) đống gỗ ấy thành địa đại. Vì cớ sao? Vì rằng có địa giới trong đống gỗ lớn ấy, y tựa theo đó, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại có thể quán đống gỗ ấy thành địa đại.
TTC 3Nếu muốn, này các Hiền giả, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại, có thể quán đống gỗ lớn ấy thành nước… thành lửa… thành gió… thành tịnh… thành bất tịnh. Vì cớ sao? Vì rằng có bất tịnh trong đống gỗ lớn ấy, y tựa theo đó, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại, có thể quán đống gỗ ấy thành bất tịnh.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasa aññatarasmiṁ padese mahantaṁ dārukkhandhaṁ.
Disvā bhikkhū āmantesi:
“passatha no, āvuso, tumhe amuṁ mahantaṁ dārukkhandhan”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Ākaṅkhamāno, āvuso, bhikkhu iddhimā cetovasippatto amuṁ dārukkhandhaṁ pathavītveva adhimucceyya.
Taṁ kissa hetu?
Atthi, āvuso, amumhi dārukkhandhe pathavīdhātu, yaṁ nissāya bhikkhu iddhimā cetovasippatto amuṁ dārukkhandhaṁ pathavītveva adhimucceyya.
Ākaṅkhamāno, āvuso, bhikkhu iddhimā cetovasippatto amuṁ dārukkhandhaṁ āpotveva adhimucceyya …pe…
tejotveva adhimucceyya …
vāyotveva adhimucceyya …
subhantveva adhimucceyya …
asubhantveva adhimucceyya.
Taṁ kissa hetu?
Atthi, āvuso, amumhi dārukkhandhe asubhadhātu, yaṁ nissāya bhikkhu iddhimā cetovasippatto amuṁ dārukkhandhaṁ asubhantveva adhimucceyyā”ti.
Ekādasamaṁ.