TTC 1—Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn?
Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không xứng đáng được tán thán; không suy tư, không thẩm sát, không tán thán người xứng đáng được tán thánh; không suy tư, không thẩm sat, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng; không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
TTC 2Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.
Có suy tư, có thẩm sát, không tán thán người không xứng đáng được tán thán; có suy tư, có thẩm sát, tán thán người xứng đáng được tán thán; có suy tư, có thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ không xứng đáng được tin tưởng; không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.
“Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
Katamehi catūhi?
Ananuvicca apariyogāhetvā avaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati,
ananuvicca apariyogāhetvā vaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati,
ananuvicca apariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti, ananuvicca apariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti—
imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge.
Katamehi catūhi?
Anuvicca pariyogāhetvā avaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati,
anuvicca pariyogāhetvā vaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati,
anuvicca pariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti
anuvicca pariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti—
imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge”ti.
Tatiyaṁ.
“Mendicants, someone with four qualities is placed in hell as if delivered there.
What four?
Without examining or scrutinizing, they praise those deserving of criticism,
and they criticize those deserving of praise.
They arouse faith in things that are dubious, and they don’t arouse faith in things that are inspiring.
Someone with these four qualities is placed in hell as if delivered there.
Someone with four qualities is placed in heaven as if delivered there.
What four?
After examining and scrutinizing, they criticize those deserving of criticism,
and they praise those deserving of praise.
They don’t arouse faith in things that are dubious,
and they do arouse faith in things that are inspiring.
Someone with these four qualities is placed in heaven as if delivered there.”
TTC 1—Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là bốn?
Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không xứng đáng được tán thán; không suy tư, không thẩm sát, không tán thán người xứng đáng được tán thánh; không suy tư, không thẩm sat, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng; không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.
TTC 2Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.
Có suy tư, có thẩm sát, không tán thán người không xứng đáng được tán thán; có suy tư, có thẩm sát, tán thán người xứng đáng được tán thán; có suy tư, có thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ không xứng đáng được tin tưởng; không suy tư, không thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng.
Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.
“Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
Katamehi catūhi?
Ananuvicca apariyogāhetvā avaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati,
ananuvicca apariyogāhetvā vaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati,
ananuvicca apariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti, ananuvicca apariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti—
imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
Catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge.
Katamehi catūhi?
Anuvicca pariyogāhetvā avaṇṇārahassa avaṇṇaṁ bhāsati,
anuvicca pariyogāhetvā vaṇṇārahassa vaṇṇaṁ bhāsati,
anuvicca pariyogāhetvā appasādanīye ṭhāne appasādaṁ upadaṁseti
anuvicca pariyogāhetvā pasādanīye ṭhāne pasādaṁ upadaṁseti—
imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato yathābhataṁ nikkhitto evaṁ sagge”ti.
Tatiyaṁ.