—Do đầy đủ ba điều kiện, này các Tỷ-kheo, một tên cướp lớn có thể chặt được khóa cửa, mang đi được đồ ăn trộm, làm kẻ cướp trộm một nhà, làm kẻ đứng đường chận cướp. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào quanh co hiểm trở, dựa vào rừng rậm, dựa vào kẻ có quyền lực.
Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là tên cướp lớn dựa vào quanh co hiểm trở? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào con sông khó lội qua, hay sự quanh co hiểm trở của núi non. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tên cướp lớn dựa vào sự quanh co hiểm trở.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tên cướp lớn dựa vào rừng rậm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào rừng rậm cỏ, hay rừng rậm cây, hay khóm rừng, hay đám rừng lớn rậm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào rừng rậm.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tên cướp lớn dựa vào kẻ có quyền lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào vua hay các vị đại thần của vua và nghĩ như sau: “Nếu có ai kết tội ta, các vua ấy hay các vị đại thần của vua ấy sẽ giải thích, cứu thoát ta”. Và thực sự là như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào kẻ có quyền lực.
Do đầy đủ ba điều kiện này, này các Tỷ-kheo, một tên cướp lớn có thể chặt được khóa cửa, mang đi được đồ ăn trộm, làm kẻ cướp trộm một nhà, làm kẻ đứng đường chận cướp.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ác Tỷ-kheo đầy đủ ba pháp, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào quanh co hiểm trở, dựa vào rừng rậm và dựa vào kẻ có quyền lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào sự hiểm trở? Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo đầy đủ với thân hành quanh co hiểm trở, với ngữ hành quanh co hiểm trở, với ý hành quanh co hiểm trở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào quanh co hiểm trở.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo có tà kiến, đầy đủ những tri kiến đi đến cực đoan. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào kẻ có quyền? Ở đây, này các Tỷ-kheo, dựa vào các vua hay các đại thần của vua, ác Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Nếu có ai kết tội ta, các vua ấy, hay các đại thần của vua ấy sẽ giải thích, cứu thoát ta”. Và thực sự là như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào kẻ có quyền lực.
Ðầu đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước.
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato mahācoro sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati.
Katamehi tīhi?
Idha, bhikkhave, mahācoro visamanissito ca hoti, gahananissito ca hoti, balavanissito ca hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro visamanissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro nadīviduggaṁ vā nissito hoti pabbatavisamaṁ vā.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro visamanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro gahananissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro tiṇagahanaṁ vā nissito hoti, rukkhagahanaṁ vā rodhaṁ vā mahāvanasaṇḍaṁ vā.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro gahananissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro balavanissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro rājānaṁ vā rājamahāmattānaṁ vā nissito hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ime me rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇissantī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tyāssa rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro balavanissito hoti.
Ime kho, bhikkhave, tīhi aṅgehi samannāgato mahācoro sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tīhi aṅgehi samannāgato pāpabhikkhu khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamehi tīhi?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito ca hoti gahananissito ca balavanissito ca.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu visamena kāyakammena samannāgato hoti, visamena vacīkammena samannāgato hoti, visamena manokammena samannāgato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu gahananissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu micchādiṭṭhiko hoti, antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu gahananissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu balavanissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu rājānaṁ vā rājamahāmattānaṁ vā nissito hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ime me rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇissantī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tyāssa rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu balavanissito hoti.
Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato pāpabhikkhu khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatī”ti.
Ekādasamaṁ.
Cūḷavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Sammukhī ṭhānatthavasaṁ,
pavatti paṇḍita sīlavaṁ;
Saṅkhataṁ pabbatātappaṁ,
mahācorenekādasāti.
Paṭhamo paṇṇāsako samatto.
SC 1“Bhikkhus, possessing three factors, a master thief breaks into houses, plunders wealth, commits banditry, and ambushes highways. What three? Here, a master thief depends on the uneven, on thickets, and on powerful people.
SC 2(1) “And how does a master thief depend on the uneven? Here, a master thief depends on rivers that are hard to cross and rugged mountains. It is in this way that a master thief depends on the uneven.
SC 3(2) “And how does a master thief depend on thickets? Here, a master thief depends on a thicket of cane, an.i.154 a thicket of trees, a coppice, or a large dense jungle. It is in this way that a master thief depends on thickets.
SC 4(3) “And how does a master thief depend on powerful people? Here, a master thief depends on kings or royal ministers. He thinks: ‘If anyone accuses me of anything, these kings or royal ministers will dismiss the case.’ If anyone accuses him of anything, those kings or royal ministers dismiss the case. It is in this way that a master thief depends on powerful people.
SC 5“It is by possessing these three factors that a master thief breaks into houses, plunders wealth, commits banditry, and ambushes highways.
SC 6“So too, bhikkhus, possessing three qualities, an evil bhikkhu maintains himself in a maimed and injured condition, is blameworthy and subject to reproach by the wise, and generates much demerit. What three? Here, an evil bhikkhu depends on the uneven, on thickets, and on powerful people.
SC 7(1) “And how does an evil bhikkhu depend on the uneven? Here, an evil bhikkhu engages in unrighteous bodily, verbal, and mental action. It is in this way that an evil bhikkhu depends on the uneven.
SC 8(2) “And how does an evil bhikkhu depend on thickets? Here, an evil bhikkhu holds wrong view, adopts an extremist view. It is in this way that an evil bhikkhu depends on thickets.
SC 9(3) “And how does an evil bhikkhu depend on powerful people? Here, an evil bhikkhu depends on kings or royal ministers. He thinks: ‘If anyone accuses me of anything, these kings or royal ministers will dismiss the case.’ If anyone accuses him of anything, those kings or royal ministers dismiss the case. It is in this way that an evil bhikkhu depends on the powerful. an.i.155
SC 10“It is by possessing these three qualities that an evil bhikkhu maintains himself in a maimed and injured condition, is blameworthy and subject to reproach by the wise, and generates much demerit.”
—Do đầy đủ ba điều kiện, này các Tỷ-kheo, một tên cướp lớn có thể chặt được khóa cửa, mang đi được đồ ăn trộm, làm kẻ cướp trộm một nhà, làm kẻ đứng đường chận cướp. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào quanh co hiểm trở, dựa vào rừng rậm, dựa vào kẻ có quyền lực.
Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là tên cướp lớn dựa vào quanh co hiểm trở? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào con sông khó lội qua, hay sự quanh co hiểm trở của núi non. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là tên cướp lớn dựa vào sự quanh co hiểm trở.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tên cướp lớn dựa vào rừng rậm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào rừng rậm cỏ, hay rừng rậm cây, hay khóm rừng, hay đám rừng lớn rậm. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào rừng rậm.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tên cướp lớn dựa vào kẻ có quyền lực? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào vua hay các vị đại thần của vua và nghĩ như sau: “Nếu có ai kết tội ta, các vua ấy hay các vị đại thần của vua ấy sẽ giải thích, cứu thoát ta”. Và thực sự là như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, tên cướp lớn dựa vào kẻ có quyền lực.
Do đầy đủ ba điều kiện này, này các Tỷ-kheo, một tên cướp lớn có thể chặt được khóa cửa, mang đi được đồ ăn trộm, làm kẻ cướp trộm một nhà, làm kẻ đứng đường chận cướp.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vị ác Tỷ-kheo đầy đủ ba pháp, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước. Thế nào là ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo dựa vào quanh co hiểm trở, dựa vào rừng rậm và dựa vào kẻ có quyền lực.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào sự hiểm trở? Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo đầy đủ với thân hành quanh co hiểm trở, với ngữ hành quanh co hiểm trở, với ý hành quanh co hiểm trở. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào quanh co hiểm trở.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo có tà kiến, đầy đủ những tri kiến đi đến cực đoan. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là các Tỷ-kheo dựa vào rừng rậm.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ác Tỷ-kheo dựa vào kẻ có quyền? Ở đây, này các Tỷ-kheo, dựa vào các vua hay các đại thần của vua, ác Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Nếu có ai kết tội ta, các vua ấy, hay các đại thần của vua ấy sẽ giải thích, cứu thoát ta”. Và thực sự là như vậy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ác Tỷ-kheo dựa vào kẻ có quyền lực.
Ðầu đủ ba pháp này, này các Tỷ-kheo, ác Tỷ-kheo tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách, và tạo nên nhiều điều vô phước.
“Tīhi, bhikkhave, aṅgehi samannāgato mahācoro sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati.
Katamehi tīhi?
Idha, bhikkhave, mahācoro visamanissito ca hoti, gahananissito ca hoti, balavanissito ca hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro visamanissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro nadīviduggaṁ vā nissito hoti pabbatavisamaṁ vā.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro visamanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro gahananissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro tiṇagahanaṁ vā nissito hoti, rukkhagahanaṁ vā rodhaṁ vā mahāvanasaṇḍaṁ vā.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro gahananissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, mahācoro balavanissito hoti?
Idha, bhikkhave, mahācoro rājānaṁ vā rājamahāmattānaṁ vā nissito hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ime me rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇissantī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tyāssa rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, mahācoro balavanissito hoti.
Ime kho, bhikkhave, tīhi aṅgehi samannāgato mahācoro sandhimpi chindati, nillopampi harati, ekāgārikampi karoti, paripanthepi tiṭṭhati.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tīhi aṅgehi samannāgato pāpabhikkhu khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavati.
Katamehi tīhi?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito ca hoti gahananissito ca balavanissito ca.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu visamena kāyakammena samannāgato hoti, visamena vacīkammena samannāgato hoti, visamena manokammena samannāgato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu visamanissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu gahananissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu micchādiṭṭhiko hoti, antaggāhikāya diṭṭhiyā samannāgato hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu gahananissito hoti.
Kathañca, bhikkhave, pāpabhikkhu balavanissito hoti?
Idha, bhikkhave, pāpabhikkhu rājānaṁ vā rājamahāmattānaṁ vā nissito hoti.
Tassa evaṁ hoti:
‘sace maṁ koci kiñci vakkhati, ime me rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇissantī’ti.
Sace naṁ koci kiñci āha, tyāssa rājāno vā rājamahāmattā vā pariyodhāya atthaṁ bhaṇanti.
Evaṁ kho, bhikkhave, pāpabhikkhu balavanissito hoti.
Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato pāpabhikkhu khataṁ upahataṁ attānaṁ pariharati, sāvajjo ca hoti sānuvajjo ca viññūnaṁ, bahuñca apuññaṁ pasavatī”ti.
Ekādasamaṁ.
Cūḷavaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Sammukhī ṭhānatthavasaṁ,
pavatti paṇḍita sīlavaṁ;
Saṅkhataṁ pabbatātappaṁ,
mahācorenekādasāti.
Paṭhamo paṇṇāsako samatto.