TTC 1—Có năm nguy hại này, này các Tỷ-kheo, trong gia đình ăn cơm phi thời sau giờ ngọ. Thế nào là năm?
TTC 2Ðối với các khách đến thăm, không cúng dường đúng thời; đối với chư Thiên lãnh thọ các vật cúng, không cúng dường đúng thời; đối với các Sa-môn, Bà-la-môn, chỉ ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, không cúng dường đúng thời; các người phục vụ, người làm công, làm công việc không được thoải mái; lại nữa, khi còn ăn phi thời, thời các món ăn thiếu chất bổ dưỡng.
Này các Tỷ-kheo, đây là năm nguy hại trong gia đình ăn cơm quá chiều, sau giờ ngọ.
TTC 3Có năm lợi ích này, này các Tỷ-kheo, trong gia đình ăn cơm đúng thời. Thế nào là năm?
TTC 4Ðối với các khách đến thăm, cúng dường đúng thời; đối với chư Thiên lãnh thọ các vật cúng, cúng dường đúng thời; đối với các Sa-môn, Bà-la-môn, chỉ ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, cúng dường đúng thời; các người phục vụ, người làm công, làm công việc được thoải mái; lại nữa, khi ăn đúng thời, thời các món ăn đầy đủ chất bổ dưỡng.
Có năm lợi ích này, này các Tỷ-kheo, trong gia đình ăn cơm đúng thời.
“Pañcime, bhikkhave, ādīnavā ussūrabhatte kule.
Katame pañca?
Ye te atithī pāhunā, te na kālena paṭipūjenti;
yā tā balipaṭiggāhikā devatā, tā na kālena paṭipūjenti;
ye te samaṇabrāhmaṇā ekabhattikā rattūparatā viratā vikālabhojanā, te na kālena paṭipūjenti;
dāsakammakaraporisā vimukhā kammaṁ karonti;
tāvatakaṁyeva asamayena bhuttaṁ anojavantaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā ussūrabhatte kule.
Pañcime, bhikkhave, ānisaṁsā samayabhatte kule.
Katame pañca?
Ye te atithī pāhunā, te kālena paṭipūjenti;
yā tā balipaṭiggāhikā devatā, tā kālena paṭipūjenti;
ye te samaṇabrāhmaṇā ekabhattikā rattūparatā viratā vikālabhojanā, te kālena paṭipūjenti;
dāsakammakaraporisā avimukhā kammaṁ karonti;
tāvatakaṁyeva samayena bhuttaṁ ojavantaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca ānisaṁsā samayabhatte kule”ti.
Aṭṭhamaṁ.
“Mendicants, there are these five drawbacks for a family who takes their meals late in the day.
What five?
When guests visit, they are not served on time.
The deities who accept spirit-offerings are not served on time.
Ascetics and brahmins who eat in one part of the day, abstaining from eating at night, and from food at the wrong time are not served on time.
Bondservants, workers, and staff do their duties neglectfully.
A meal eaten during the wrong period is not nutritious.
These are the five drawbacks for a family who takes their meals late in the day.
There are these five benefits for a family who takes their meals at a proper time.
What five?
When guests visit, they are served on time.
The deities who accept spirit-offerings are served on time.
Ascetics and brahmins who eat in one part of the day, abstaining from eating at night, and from food at the wrong time are served on time.
Bondservants, workers, and staff do their duties attentively.
A meal eaten during the proper period is nutritious.
These are the five benefits for a family who takes their meals at a proper time.”
TTC 1—Có năm nguy hại này, này các Tỷ-kheo, trong gia đình ăn cơm phi thời sau giờ ngọ. Thế nào là năm?
TTC 2Ðối với các khách đến thăm, không cúng dường đúng thời; đối với chư Thiên lãnh thọ các vật cúng, không cúng dường đúng thời; đối với các Sa-môn, Bà-la-môn, chỉ ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, không cúng dường đúng thời; các người phục vụ, người làm công, làm công việc không được thoải mái; lại nữa, khi còn ăn phi thời, thời các món ăn thiếu chất bổ dưỡng.
Này các Tỷ-kheo, đây là năm nguy hại trong gia đình ăn cơm quá chiều, sau giờ ngọ.
TTC 3Có năm lợi ích này, này các Tỷ-kheo, trong gia đình ăn cơm đúng thời. Thế nào là năm?
TTC 4Ðối với các khách đến thăm, cúng dường đúng thời; đối với chư Thiên lãnh thọ các vật cúng, cúng dường đúng thời; đối với các Sa-môn, Bà-la-môn, chỉ ăn mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, cúng dường đúng thời; các người phục vụ, người làm công, làm công việc được thoải mái; lại nữa, khi ăn đúng thời, thời các món ăn đầy đủ chất bổ dưỡng.
Có năm lợi ích này, này các Tỷ-kheo, trong gia đình ăn cơm đúng thời.
“Pañcime, bhikkhave, ādīnavā ussūrabhatte kule.
Katame pañca?
Ye te atithī pāhunā, te na kālena paṭipūjenti;
yā tā balipaṭiggāhikā devatā, tā na kālena paṭipūjenti;
ye te samaṇabrāhmaṇā ekabhattikā rattūparatā viratā vikālabhojanā, te na kālena paṭipūjenti;
dāsakammakaraporisā vimukhā kammaṁ karonti;
tāvatakaṁyeva asamayena bhuttaṁ anojavantaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca ādīnavā ussūrabhatte kule.
Pañcime, bhikkhave, ānisaṁsā samayabhatte kule.
Katame pañca?
Ye te atithī pāhunā, te kālena paṭipūjenti;
yā tā balipaṭiggāhikā devatā, tā kālena paṭipūjenti;
ye te samaṇabrāhmaṇā ekabhattikā rattūparatā viratā vikālabhojanā, te kālena paṭipūjenti;
dāsakammakaraporisā avimukhā kammaṁ karonti;
tāvatakaṁyeva samayena bhuttaṁ ojavantaṁ hoti.
Ime kho, bhikkhave, pañca ānisaṁsā samayabhatte kule”ti.
Aṭṭhamaṁ.