TTC 1Một thời, Thế Tôn ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Này Ananda, khi nào vị Tỷ-kheo tự mình đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
—Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Có thể có, này Ananda!
Thế Tôn nói:
—Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình không quán sát người khác. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
—Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Có thể có, này Ananda!
Thế Tôn nói:
—Này Ananda, khi nào vị Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
—Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Có thể có, này Ananda!
Thế Tôn nói:
—Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng, đối với bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
—Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Có thể có, này Ananda!
Thế Tôn nói:
—Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng, đối với bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình với thắng trí ngay trong hiện tại chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
Ngoài các an ổn trú này, này Ananda, Ta tuyên bố không có một an ổn trú nào khác cao thượng hơn, thù diệu hơn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti.
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo yathā bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Siyā, ānanda.
Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
attānupekkhī ca hoti, no parānupekkhī;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti.
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo yathā bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Siyā, ānanda.
Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
attānupekkhī ca hoti, no parānupekkhī;
apaññāto ca hoti, tena ca apaññātakena no paritassati;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti.
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo yathā bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Siyā, ānanda.
Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
attānupekkhī ca hoti, no parānupekkhī;
apaññāto ca hoti, tena ca apaññātakena no paritassati;
catunnañca jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti.
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo yathā bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Siyā, ānanda.
Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
attānupekkhī ca hoti, no parānupekkhī;
apaññāto ca hoti, tena ca apaññātakena no paritassati;
catunnañca jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī;
āsavānañca khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyya.
Imamhā cāhaṁ, ānanda, phāsuvihārā añño phāsuvihāro uttaritaro vā paṇītataro vā natthīti vadāmī”ti.
Chaṭṭhaṁ.
At one time the Buddha was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
“Sir, how could a mendicant live comfortably while staying in a monastic community?”
“It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical.
That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.”
“But sir, could there be another way for a mendicant to live comfortably while staying in a monastic community?”
“There could, Ānanda.
It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical.
And they watch themselves, but don’t watch others.
That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.”
“But sir, could there be another way for a mendicant to live comfortably while staying in a monastic community?”
“There could, Ānanda.
It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical.
And they watch themselves, but don’t watch others.
And they’re not well-known, but aren’t bothered by that.
That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.”
“But sir, could there be another way for a mendicant to live comfortably while staying in a monastic community?”
“There could, Ānanda.
It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical.
And they watch themselves, but don’t watch others.
And they’re not well-known, but aren’t bothered by that.
And they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.”
“But sir, might there be another way for a mendicant to live comfortably while staying in a monastic community?”
“There could, Ānanda.
It’s when a mendicant is accomplished in their own ethical conduct, but they don’t urge others to be ethical.
And they watch themselves, but don’t watch others.
And they’re not well-known, but aren’t bothered by that.
And they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
And they realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.
That’s how a mendicant could live comfortably while staying in a monastic community.
And I say that there is no better or finer way of living comfortably than this.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn ở Kosambì, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Này Ananda, khi nào vị Tỷ-kheo tự mình đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
—Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Có thể có, này Ananda!
Thế Tôn nói:
—Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình không quán sát người khác. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
—Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Có thể có, này Ananda!
Thế Tôn nói:
—Này Ananda, khi nào vị Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
—Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Có thể có, này Ananda!
Thế Tôn nói:
—Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng, đối với bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
—Bạch Thế Tôn, có pháp môn nào khác, nhờ vậy chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú?
—Có thể có, này Ananda!
Thế Tôn nói:
—Này Ananda, khi nào Tỷ-kheo đầy đủ giới và không làm phiền hà người khác với tăng thượng giới, tự quán sát mình, không quán sát người khác, chưa trở thành có danh tiếng, và không cảm thấy bực phiền vì không được có danh tiếng, đối với bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức. Do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình với thắng trí ngay trong hiện tại chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Cho đến như vậy, này Ananda, chúng Tỷ-kheo Tăng sống an ổn trú.
Ngoài các an ổn trú này, này Ananda, Ta tuyên bố không có một an ổn trú nào khác cao thượng hơn, thù diệu hơn.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“Kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti.
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo yathā bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Siyā, ānanda.
Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
attānupekkhī ca hoti, no parānupekkhī;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti.
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo yathā bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Siyā, ānanda.
Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
attānupekkhī ca hoti, no parānupekkhī;
apaññāto ca hoti, tena ca apaññātakena no paritassati;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti.
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo yathā bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Siyā, ānanda.
Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
attānupekkhī ca hoti, no parānupekkhī;
apaññāto ca hoti, tena ca apaññātakena no paritassati;
catunnañca jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti.
“Siyā pana, bhante, aññopi pariyāyo yathā bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyyā”ti?
“Siyā, ānanda.
Yato kho, ānanda, bhikkhu attanā sīlasampanno hoti, no paraṁ adhisīle sampavattā;
attānupekkhī ca hoti, no parānupekkhī;
apaññāto ca hoti, tena ca apaññātakena no paritassati;
catunnañca jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī;
āsavānañca khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati;
ettāvatāpi kho, ānanda, bhikkhu saṅghe viharanto phāsuṁ vihareyya.
Imamhā cāhaṁ, ānanda, phāsuvihārā añño phāsuvihāro uttaritaro vā paṇītataro vā natthīti vadāmī”ti.
Chaṭṭhaṁ.