—Này các Tỷ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba? Ngã tăng thượng, thế giới tăng thượng, pháp tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ngã tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quan sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, sự đoạn tận tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên (cho ta). Và ta đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia hay còn ác tệ hơn. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta”.
Vị ấy quan sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tự ngã tăng thượng.
TTC 2—Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là thế giới tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể làm như vậy, đoạn tận của tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Và ta đã xuất gia như vậy, lại có thể suy nghĩ về dục tầm hay có thể suy nghĩ về sân tầm, hay có thể suy nghi về hại tầm. To lớn là đại chúng này sống ở trong đời. Trong đại chúng sống ở đời, có các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thể thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Chúng biết về ta như sau: “Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện”. Lại có các chư Thiên có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Các vị ấy có thể biết về ta như sau: “Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện.”
Vị ấy lại quan sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng thế giới, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thế giới tăng thượng.
TTC 3—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy. Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta”.
Vị ấy lại quán sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng pháp, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp tăng thượng. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp tăng thượng này.
TTC 4
Trên đời không giấu được
Ác nghiệp tự mình làm
Ngã của ngươi ta biết
Là thật hay là giả
Ngươi thật khinh thiện ngã
Mặt giáp mặt chứng kiến
Muốn che giấu tự ngã
Ðiều ác tự ngã làm
Chư Thiên và Như Lai
Thấy rõ ở trong đời
Sở hành của kẻ ngu
Làm các hạng tà vạy
Vậy vị ngã tăng thượng
Sở hành phải chánh niệm
Vị thế giới tăng thượng
Hãy khôn khéo, Thiền tịnh
Với vị pháp tăng thượng
Hãy sống theo tùy pháp
Ðại sĩ không thối thất
Tinh cần theo chân lý
Nhiếp phục được ma quân
Chiến thắng được tử thần
Với tinh cần tinh tấn
Sanh đã được đoạn tận.
Bậc đạo sĩ như vậy,
Hiểu thế gian diệu chí
Ðối với tất cả pháp
Không có gì xúc phạm
“Tīṇimāni, bhikkhave, ādhipateyyāni.
Katamāni tīṇi?
Attādhipateyyaṁ, lokādhipateyyaṁ, dhammādhipateyyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, attādhipateyyaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto.
Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti.
Ahañceva kho pana yādisake kāme ohāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito tādisake vā kāme pariyeseyyaṁ tato vā pāpiṭṭhatare, na metaṁ patirūpan’ti.
So iti paṭisañcikkhati:
‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti.
So attānaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, attādhipateyyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, lokādhipateyyaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto.
Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti.
Ahañceva kho pana evaṁ pabbajito samāno kāmavitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, byāpādavitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, mahā kho panāyaṁ lokasannivāso.
Mahantasmiṁ kho pana lokasannivāse santi samaṇabrāhmaṇā iddhimanto dibbacakkhukā paracittaviduno.
Te dūratopi passanti, āsannāpi na dissanti, cetasāpi cittaṁ pajānanti.
Tepi maṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘passatha, bho, imaṁ kulaputtaṁ saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno vokiṇṇo viharati pāpakehi akusalehi dhammehī’ti.
devatāpi kho santi iddhimantiniyo dibbacakkhukā paracittaviduniyo.
Tā dūratopi passanti, āsannāpi na dissanti, cetasāpi cittaṁ jānanti.
Tāpi maṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘passatha, bho, imaṁ kulaputtaṁ saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno vokiṇṇo viharati pāpakehi akusalehi dhammehī’ti.
So iti paṭisañcikkhati:
‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti.
So lokaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, lokādhipateyyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, dhammādhipateyyaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto.
Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti.
Svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti.
Santi kho pana me sabrahmacārī jānaṁ passaṁ viharanti.
Ahañceva kho pana evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito samāno kusīto vihareyyaṁ pamatto, na metaṁ assa patirūpan’ti.
So iti paṭisañcikkhati:
‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti.
So dhammaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammādhipateyyaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi ādhipateyyānīti.
Natthi loke raho nāma,
pāpakammaṁ pakubbato;
Attā te purisa jānāti,
saccaṁ vā yadi vā musā.
Kalyāṇaṁ vata bho sakkhi,
attānaṁ atimaññasi;
Yo santaṁ attani pāpaṁ,
attānaṁ parigūhasi.
Passanti devā ca tathāgatā ca,
Lokasmiṁ bālaṁ visamaṁ carantaṁ;
Tasmā hi attādhipateyyako ca,
Lokādhipo ca nipako ca jhāyī;
Dhammādhipo ca anudhammacārī,
Na hīyati saccaparakkamo muni.
Pasayha māraṁ abhibhuyya antakaṁ,
Yo ca phusī jātikkhayaṁ padhānavā;
So tādiso lokavidū sumedho,
Sabbesu dhammesu atammayo munī”ti.
Dasamaṁ.
Devadūtavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Brahma ānanda sāriputto,
Nidānaṁ hatthakena ca;
Dūtā duve ca rājāno,
Sukhumālādhipateyyena cāti.
SC 1“Monks, there are three kinds of motivation. What three? Self-motivation, world-motivation, and Dhamma-motivation.
SC 2“Monks, what is self-motivation? Here, monks, a monk in a forest, or at the foot of a tree, or in an empty building, considers, ‘I did not leave lay life and become a homeless renunciate for the sake of robes, or food, or housing, or to become anything in particular. It was just because I was overcome by birth, decay, death, sorrow, grief, pain, depression, and anguish; overcome by suffering and enveloped in suffering; and I thought that perhaps a way could be found to end this mass of suffering. If I were to seek out sensual experiences similar or inferior to what I left behind when I left lay life and became a homeless renunciate, that would not be appropriate for me.’ He thinks, ‘Unrelenting energy will be initiated, unblurred mindfulness will be established, the body will be tranquil and undisturbed, the mind will be concentrated and unified!’ So, motivated by himself, he abandons the unwholesome, develops the wholesome, abandons the blameworthy, develops the blameless, and maintains his purity. Monks, this is called ‘self-motivation.’
SC 3“Monks, what is world-motivation? Here, monks, a monk in a forest, or at the foot of a tree, or in an empty building, considers, ‘I did not leave lay life and become a homeless renunciate for the sake of robes, or food, or housing, or to become anything in particular. It was just because I was overcome by birth, decay, death, sorrow, grief, pain, depression, and anguish; overcome by suffering and enveloped in suffering; and I thought that perhaps a way could be found to end this mass of suffering. Although I have become a renunciate in this way, I might think sensual thoughts, aversive thoughts, or cruel thoughts. However, there are a great number of people in this world; and among them there are contemplatives and holy people who have spiritual vision and can read minds. They see others from afar, but others cannot see them even when they are close by. They know the minds of others using their own minds. They could know me in this way: “Look, even though this gentleman faithfully left lay life and became a homeless renunciate, he lives all mixed up with evil, unwholesome thoughts.” There are also powerful angels who have spiritual vision and can read minds. They also see others from afar, but others cannot see them even when they are close by. They also know the minds of others using their own minds. They also could know me in this way: “Look, even though this gentleman faithfully left lay life and became a homeless renunciate, he lives all mixed up with evil, unwholesome thoughts.”’ He thinks, ‘Unrelenting energy will be initiated, unblurred mindfulness will be established, the body will be tranquil and undisturbed, the mind will be concentrated and unified!’ So, motivated by the world, he abandons the unwholesome, develops the wholesome, abandons the blameworthy, develops the blameless, and maintains his purity. Monks, this is called ‘world-motivation.’
SC 4“Monks, what is Dhamma-motivation? Here, monks, a monk in a forest, or at the foot of a tree, or in an empty building, considers, ‘I did not leave lay life and become a homeless renunciate for the sake of robes, or food, or housing, or to become anything in particular. It was just because I was overcome by birth, decay, death, sorrow, grief, pain, depression, and anguish; overcome by suffering and enveloped in suffering; and I thought that perhaps a way could be found to end this mass of suffering. The Dhamma is well-expounded by the Fortunate One – visible, timeless, apparent, transformative, to be personally experienced by the wise. I have co-practitioners who know and see. As a renunciate in such a well-expounded system of teachings and trainings, if I were to live lazily and negligently, that would not be appropriate for me.’ He thinks, ‘Unrelenting energy will be initiated, unblurred mindfulness will be established, the body will be tranquil and undisturbed, the mind will be concentrated and unified!’ So, motivated by the Dhamma, he abandons the unwholesome, develops the wholesome, abandons the blameworthy, develops the blameless, and maintains his purity. Monks, this is called ‘Dhamma-motivation.’
SC 5“Monks, these are the three kinds of motivation.
SC 6“There is no secrecy in the world for one who does evil things
A person knows for themselves what it true and what is false.
SC 7“The goodness within you despises what it sees of you,
And the evil within that you try to hide.
SC 8“Angels and Buddhas also see
All the fools living unpeacefully in the world.
SC 9“Therefore, motivated by oneself and by the world,
A clever person should practice meditation.
SC 10“Motivated by the Dhamma, practicing according to it,
A wise person committed to truth does not falter.
SC 11“One who subdues Māra, overpowering the Ender,
Contacts the elimination of birth through striving.
SC 12“A wise person who knows the world in this way
Is a sage who cannot be defined in terms of anything.”
—Này các Tỷ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba? Ngã tăng thượng, thế giới tăng thượng, pháp tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ngã tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quan sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, sự đoạn tận tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên (cho ta). Và ta đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia hay còn ác tệ hơn. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta”.
Vị ấy quan sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tự ngã tăng thượng.
TTC 2—Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là thế giới tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể làm như vậy, đoạn tận của tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Và ta đã xuất gia như vậy, lại có thể suy nghĩ về dục tầm hay có thể suy nghĩ về sân tầm, hay có thể suy nghi về hại tầm. To lớn là đại chúng này sống ở trong đời. Trong đại chúng sống ở đời, có các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thể thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Chúng biết về ta như sau: “Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện”. Lại có các chư Thiên có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Các vị ấy có thể biết về ta như sau: “Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện.”
Vị ấy lại quan sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng thế giới, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thế giới tăng thượng.
TTC 3—Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: “Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy. Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta”.
Vị ấy lại quán sát như sau: “Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm”. Vị ấy làm cho tăng thượng pháp, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp tăng thượng. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp tăng thượng này.
TTC 4
Trên đời không giấu được
Ác nghiệp tự mình làm
Ngã của ngươi ta biết
Là thật hay là giả
Ngươi thật khinh thiện ngã
Mặt giáp mặt chứng kiến
Muốn che giấu tự ngã
Ðiều ác tự ngã làm
Chư Thiên và Như Lai
Thấy rõ ở trong đời
Sở hành của kẻ ngu
Làm các hạng tà vạy
Vậy vị ngã tăng thượng
Sở hành phải chánh niệm
Vị thế giới tăng thượng
Hãy khôn khéo, Thiền tịnh
Với vị pháp tăng thượng
Hãy sống theo tùy pháp
Ðại sĩ không thối thất
Tinh cần theo chân lý
Nhiếp phục được ma quân
Chiến thắng được tử thần
Với tinh cần tinh tấn
Sanh đã được đoạn tận.
Bậc đạo sĩ như vậy,
Hiểu thế gian diệu chí
Ðối với tất cả pháp
Không có gì xúc phạm
“Tīṇimāni, bhikkhave, ādhipateyyāni.
Katamāni tīṇi?
Attādhipateyyaṁ, lokādhipateyyaṁ, dhammādhipateyyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, attādhipateyyaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto.
Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti.
Ahañceva kho pana yādisake kāme ohāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito tādisake vā kāme pariyeseyyaṁ tato vā pāpiṭṭhatare, na metaṁ patirūpan’ti.
So iti paṭisañcikkhati:
‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti.
So attānaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, attādhipateyyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, lokādhipateyyaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto.
Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti.
Ahañceva kho pana evaṁ pabbajito samāno kāmavitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, byāpādavitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, vihiṁsāvitakkaṁ vā vitakkeyyaṁ, mahā kho panāyaṁ lokasannivāso.
Mahantasmiṁ kho pana lokasannivāse santi samaṇabrāhmaṇā iddhimanto dibbacakkhukā paracittaviduno.
Te dūratopi passanti, āsannāpi na dissanti, cetasāpi cittaṁ pajānanti.
Tepi maṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘passatha, bho, imaṁ kulaputtaṁ saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno vokiṇṇo viharati pāpakehi akusalehi dhammehī’ti.
devatāpi kho santi iddhimantiniyo dibbacakkhukā paracittaviduniyo.
Tā dūratopi passanti, āsannāpi na dissanti, cetasāpi cittaṁ jānanti.
Tāpi maṁ evaṁ jāneyyuṁ:
‘passatha, bho, imaṁ kulaputtaṁ saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno vokiṇṇo viharati pāpakehi akusalehi dhammehī’ti.
So iti paṭisañcikkhati:
‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti.
So lokaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, lokādhipateyyaṁ.
Katamañca, bhikkhave, dhammādhipateyyaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘na kho panāhaṁ cīvarahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Na piṇḍapātahetu, na senāsanahetu, na itibhavābhavahetu agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Api ca khomhi otiṇṇo jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, dukkhotiṇṇo dukkhapareto.
Appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethāti.
Svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti.
Santi kho pana me sabrahmacārī jānaṁ passaṁ viharanti.
Ahañceva kho pana evaṁ svākkhāte dhammavinaye pabbajito samāno kusīto vihareyyaṁ pamatto, na metaṁ assa patirūpan’ti.
So iti paṭisañcikkhati:
‘āraddhaṁ kho pana me vīriyaṁ bhavissati asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, passaddho kāyo asāraddho, samāhitaṁ cittaṁ ekaggan’ti.
So dhammaṁyeva adhipatiṁ karitvā akusalaṁ pajahati, kusalaṁ bhāveti, sāvajjaṁ pajahati, anavajjaṁ bhāveti, suddhaṁ attānaṁ pariharati.
Idaṁ vuccati, bhikkhave, dhammādhipateyyaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi ādhipateyyānīti.
Natthi loke raho nāma,
pāpakammaṁ pakubbato;
Attā te purisa jānāti,
saccaṁ vā yadi vā musā.
Kalyāṇaṁ vata bho sakkhi,
attānaṁ atimaññasi;
Yo santaṁ attani pāpaṁ,
attānaṁ parigūhasi.
Passanti devā ca tathāgatā ca,
Lokasmiṁ bālaṁ visamaṁ carantaṁ;
Tasmā hi attādhipateyyako ca,
Lokādhipo ca nipako ca jhāyī;
Dhammādhipo ca anudhammacārī,
Na hīyati saccaparakkamo muni.
Pasayha māraṁ abhibhuyya antakaṁ,
Yo ca phusī jātikkhayaṁ padhānavā;
So tādiso lokavidū sumedho,
Sabbesu dhammesu atammayo munī”ti.
Dasamaṁ.
Devadūtavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Brahma ānanda sāriputto,
Nidānaṁ hatthakena ca;
Dūtā duve ca rājāno,
Sukhumālādhipateyyena cāti.