TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm chi phần tinh cần này. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Phật, Thế Tôn. Ngài ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với tinh tấn. Ngài không lừa đảo, dối gạt, nêu rõ mình như chân đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng Phạm hạnh. Ngài sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, kiên trì, nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Ngài có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sanh diệt (của các Pháp), thành tựu thánh thể nhập, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.”
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm chi phần tinh cần.
“Pañcimāni, bhikkhave, padhāniyaṅgāni.
Katamāni pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Appābādho hoti appātaṅko;
samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya;
asaṭho hoti amāyāvī;
yathābhūtaṁ attānaṁ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu;
āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu;
paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Imāni kho, bhikkhave, pañca padhāniyaṅgānī”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these five factors that assist striving. What five?
SC 2(1) “Here, a bhikkhu is endowed with faith. He places faith in the enlightenment of the Tathāgata thus: ‘The Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One.’
SC 3(2) “He is seldom ill or afflicted, possessing an even digestion that is neither too cool nor too hot but moderate and suitable for striving.
SC 4(3) “He is honest and open, one who reveals himself as he really is to the Teacher and his wise fellow monks.
SC 5(4) “He has aroused energy for abandoning unwholesome qualities and acquiring wholesome qualities; he is strong, firm in exertion, not casting off the duty of cultivating wholesome qualities.
SC 6(5) “He is wise; he possesses the wisdom that discerns arising and passing away, which is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering.
SC 7“These, bhikkhus, are the five factors that assist striving.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, có năm chi phần tinh cần này. Thế nào là năm?
TTC 2Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Phật, Thế Tôn. Ngài ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với tinh tấn. Ngài không lừa đảo, dối gạt, nêu rõ mình như chân đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng Phạm hạnh. Ngài sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, kiên trì, nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp. Ngài có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sanh diệt (của các Pháp), thành tựu thánh thể nhập, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.”
Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm chi phần tinh cần.
“Pañcimāni, bhikkhave, padhāniyaṅgāni.
Katamāni pañca?
Idha, bhikkhave, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Appābādho hoti appātaṅko;
samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya;
asaṭho hoti amāyāvī;
yathābhūtaṁ attānaṁ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu;
āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu;
paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Imāni kho, bhikkhave, pañca padhāniyaṅgānī”ti.
Tatiyaṁ.