TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đà) sống giữa dân chúng Celì, tại Pàcìnavamsadàya, Rồi Tôn giả Anuruddha, trong khi sống độc cư … Thiền tịnh, tâm tư khởi lên như sau: “Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục; Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Pháp này để cho người có trí tuệ, pháp này không phải để cho người ác tuệ”.
TTC 2Rồi Thế Tôn với tâm của mình rõ biết tâm tư của Tôn giả Anuruddha, ví như người lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại; hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thế Tôn biến mất ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển, và hiện ra giữa dân chúng Celì, tại Pàcìnavamsadàya, trước mặt Tôn giả Anuruddha. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi một bên:
TTC 3—Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Lành thay, này Anuruddha, Thầy đã suy nghĩ đến bảy niệm của bậc Ðại nhân: “ Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục; Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Pháp này để cho người có trí tuệ, pháp này không phải để cho người ác tuệ”.
Do vậy, này Anuruddha, hãy suy nghĩ đến niệm thứ tám này của bậc Ðại nhân: “Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận “.
TTC 4Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
TTC 5Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, diệt tầm diệt tứ, Thầy sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
TTC 6Khi nào, này Anuruddha, khi nào Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và an trú Thiền thứ ba.
TTC 7Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
TTC 8Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, tấm y lượm từ đống rác lên của Thầy sẽ giống như tủ áo đầy những vải có nhiều màu sắc của người gia chủ hay con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 9Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, các món ăn từng miếng Thầy khất thực được sẽ giống như món cơm bằng gạo trắng, các hạt đen đã được lượm sạch, với nhiều loại súp, với nhiều loại đồ ăn của người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 10Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, chỗ nằm dưới gốc cây thầy sẽ giống như nhà có nóc nhọn, có trét hồ trong ngoài, cửa được cài then, cửa sổ được đóng lại ngăn chặn gió của người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 11Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, giường nằm và chỗ ngồi trải với đệm cỏ của Thầy sẽ giống như ghế dài, nệm trải giường nằm bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm thảm với đầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 12Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, dược phẩm nước tiểu hôi của Thầy sẽ giống như các loại dược phẩm của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 13Vậy này Anuruddha, nhân kỳ an cư mùa mưa sắp đến, hãy trú giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Anuruddha vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn sau khi khuyến giáo Tôn giả Anuruddha với lời khuyến giáo này, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya và hiện ra giữa dân chúng Bhagga, trên núi Sumsumàra trong rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
TTC 14—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết tám tư niệm của bậc Ðại nhân cho các Thầy. Hãy lắng nghe và khéo tư niệm, Ta sẽ giảng:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, thế nào là tám tư niệm của bậc Ðại nhân?
TTC 15Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không phải để cho người nhiều dục; Này các Tỷ kheo,Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Này các Tỷ kheo,Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người có trí tuệ, Pháp này không phải để cho người ác tuệ; Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận.
TTC 16Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không để cho người có dục lớn”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 17Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo ít dục không muốn: “Mong người ta biết tôi là ít dục”; biết đủ, không muốn: “Mong người ta biết tôi là biết đủ”; sống viễn ly, không muốn: “Mong người ta biết tôi sống viễn ly”; tinh cần tinh tấn, không muốn: “Mong người ta biết tôi sống tinh cần tinh tấn”; trú niệm, không muốn: “Mong người ta biết tôi trú niệm”; có định, không muốn: “Mong người ta biết tôi có định”; có tuệ, không muốn: “Mong người ta biết tôi là người có tuệ “; không thích hý luận, không muốn: “Mong người ta biết tôi không thích hý luận”. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không để cho người có dục lớn”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 18Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người biết đủ, Pháp này không để cho người không biết đủ”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 19Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ vật dụng gì như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người biết đủ, Pháp này không phải để cho người không biết đủ”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 20Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người sống viễn ly, “Pháp này không phải để cho người ưa thích hội chúng”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 21Ở đây, này các Tỷ-kheo, Với Tỷ-kheo sống viễn ly, có nhiều người đến thăm như Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần, các ngoại đạo sư, đệ tử của các ngoại đạo sư. Ở đây, Tỷ-kheo với tâm thuận về viễn ly, hướng về viễn ly, nhập vào viễn ly, trú vào viễn ly, thích thú xuất ly, nói lời hoàn toàn liên hệ đến lánh xa. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người viễn ly, “Pháp này không phải để cho người không ưa hội chúng”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 22Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, “Pháp này không phải để cho người biếng nhác”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 23Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn, đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu các Pháp thiện, nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, “Pháp này không phải để cho người biếng nhác”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 24Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người trú niệm, “Pháp này không phải để cho người thất niệm”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 25Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức nhớ tùy niệm những điều đã làm, nói đã lâu. Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người trú niệm, Pháp này không phải để cho người thất niệm”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 26Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người thiền định, “Pháp này không phải để cho người không thiền định”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 27Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người thiền định, “Pháp này không phải để cho người không thiền định”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 28Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người có trí tuệ, “Pháp này không phải để cho người không trí tuệ”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 29Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập (quyết trạch), đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người có trí tuệ, Pháp này không phải để cho người không trí tuệ”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy
TTC 30Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, “Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 31Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với đoạn diệt hý luận, tâm được phấn chấn, tịnh tín, an trú, hướng đến. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, “Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 32Rồi Tôn giả Anuruddha, mùa mưa an cư đến, đến trú ở giữa dân chúng Cetì, tại Pacìnavamsadàya. Rồi Tôn giả Anuruddha sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, do mục đích gì, các Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng nhập và an trú. Vị ấy chứng rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại trạng thái này nữa” và Tôn giả Anuruddha trở thành một vị A-la-hán nữa. Rồi Tôn Giả Anuruđha chứng được A-la-hán ngay trong thời gian ấy, nói lên những bài kệ này:
Thế gian vô thượng sư
Rõ biết tư tưởng ta
Với thân do ý tạo
Thần thông đến với ta
Tùy theo ta nghĩ gì
Ngài thuyết rõ tất cả
Phật không ưa hý luận
Ngài thuyết, không hý luận
Ngộ pháp, ta hoan hỷ
Trú trong giáo pháp ngài
Ba minh đã đạt được
Giáo pháp Phật làm xong.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bhaggesu viharati suṁsumāragire bhesakaḷāvane migadāye.
Tena kho pana samayena āyasmā anuruddho cetīsu viharati pācīnavaṁsadāye.
Atha kho āyasmato anuruddhassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“appicchassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa;
santuṭṭhassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa;
pavivittassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa;
āraddhavīriyassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa;
upaṭṭhitassatissāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa;
samāhitassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa;
paññavato ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā”ti.
Atha kho bhagavā āyasmato anuruddhassa cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ—bhaggesu susumāragire bhesakaḷāvane migadāye antarahito cetīsu pācīnavaṁsadāye āyasmato anuruddhassa sammukhe pāturahosi.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Āyasmāpi kho anuruddho bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ anuruddhaṁ bhagavā etadavoca:
“Sādhu sādhu, anuruddha.
Sādhu kho tvaṁ, anuruddha, yaṁ taṁ mahāpurisavitakkaṁ vitakkesi:
‘appicchassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa;
santuṭṭhassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa;
pavivittassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa;
āraddhavīriyassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa;
upaṭṭhitassatissāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa;
samāhitassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa;
paññavato ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā’ti.
Tena hi tvaṁ, anuruddha, imampi aṭṭhamaṁ mahāpurisavitakkaṁ vitakkehi:
‘nippapañcārāmassāyaṁ dhammo nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṁ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharissasi.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṁ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharissasi.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṁ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharissasi sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedissasi yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharissasi.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṁ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharissasi.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nānārattānaṁ dussānaṁ dussakaraṇḍako pūro;
evamevaṁ te paṁsukūlacīvaraṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā sālīnaṁ odano vicitakāḷako anekasūpo anekabyañjano;
evamevaṁ te piṇḍiyālopabhojanaṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā kūṭāgāraṁ ullittāvalittaṁ nivātaṁ phusitaggaḷaṁ pihitavātapānaṁ;
evamevaṁ te rukkhamūlasenāsanaṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā pallaṅko gonakatthato paṭikatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo sauttaracchado ubhatolohitakūpadhāno;
evamevaṁ te tiṇasanthārakasayanāsanaṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nānābhesajjāni, seyyathidaṁ—sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ;
evamevaṁ te pūtimuttabhesajjaṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Tena hi tvaṁ, anuruddha, āyatikampi vassāvāsaṁ idheva cetīsu pācīnavaṁsadāye vihareyyāsī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā anuruddho bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ anuruddhaṁ iminā ovādena ovaditvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ—cetīsu pācīnavaṁsadāye antarahito bhaggesu susumāragire bhesakaḷāvane migadāye pāturahosīti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“aṭṭha kho, bhikkhave, mahāpurisavitakke desessāmi, taṁ suṇātha …pe…
katame ca, bhikkhave, aṭṭha mahāpurisavitakkā?
Appicchassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa;
santuṭṭhassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa;
pavivittassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa;
āraddhavīriyassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa;
upaṭṭhitassatissāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa;
samāhitassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa;
paññavato ayaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassa;
nippapañcārāmassāyaṁ, bhikkhave, dhammo nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino.
‘Appicchassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassā’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu appiccho samāno ‘appicchoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, santuṭṭho samāno ‘santuṭṭhoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, pavivitto samāno ‘pavivittoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, āraddhavīriyo samāno ‘āraddhavīriyoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, upaṭṭhitassati samāno ‘upaṭṭhitassatīti maṁ jāneyyun’ti na icchati, samāhito samāno ‘samāhitoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, paññavā samāno ‘paññavāti maṁ jāneyyun’ti na icchati, nippapañcārāmo samāno ‘nippapañcārāmoti maṁ jāneyyun’ti na icchati.
‘Appicchassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Santuṭṭhassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassā’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena.
‘Santuṭṭhassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Pavivittassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassā’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno pavivittassa viharato bhavanti upasaṅkamitāro bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo rājāno rājamahāmattā titthiyā titthiyasāvakā.
Tatra bhikkhu vivekaninnena cittena vivekapoṇena vivekapabbhārena vivekaṭṭhena nekkhammābhiratena aññadatthu uyyojanikapaṭisaṁyuttaṁyeva kathaṁ kattā hoti.
‘Pavivittassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Āraddhavīriyassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassā’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
‘Āraddhavīriyassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Upaṭṭhitassatissāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissā’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
‘Upaṭṭhitassatissāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo, muṭṭhassatissā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Samāhitassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassā’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
‘Samāhitassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Paññavato ayaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
‘Paññavato ayaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Nippapañcārāmassāyaṁ, bhikkhave, dhammo nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno papañcanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
‘Nippapañcārāmassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Atha kho āyasmā anuruddho āyatikampi vassāvāsaṁ tattheva cetīsu pācīnavaṁsadāye vihāsi.
Atha kho āyasmā anuruddho eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro ca panāyasmā anuruddho arahataṁ ahosīti.
Atha kho āyasmā anuruddho arahattappatto tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
“Mama saṅkappamaññāya,
satthā loke anuttaro;
Manomayena kāyena,
iddhiyā upasaṅkami.
Yathā me ahu saṅkappo,
tato uttari desayi;
Nippapañcarato buddho,
nippapañcaṁ adesayi.
Tassāhaṁ dhammamaññāya,
vihāsiṁ sāsane rato;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
Dasamaṁ.
Gahapativaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Dve uggā dve ca hatthakā,
mahānāmena jīvako;
Dve balā akkhaṇā vuttā,
anuruddhena te dasāti.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling among the Bhaggas in Suṁsumāragira in the deer park at Bhesakalā Grove. Now on that occasion the Venerable Anuruddha dwelled among the Cetis in the eastern bamboo park. While the Venerable Anuruddha was alone in seclusion, a course of thought arose in his mind thus:
SC 2(1) “This Dhamma is for one with few desires, not for one with strong desires. (2) This an.iv.229 Dhamma is for one who is content, not for one who is discontent. (3) This Dhamma is for one who resorts to solitude, not for one who delights in company. (4) This Dhamma is for one who is energetic, not for one who is lazy. (5) This Dhamma is for one with mindfulness established, not for one who is muddle-minded. (6) This Dhamma is for one who is concentrated, not for one who is unconcentrated. (7) This Dhamma is for one who is wise, not for one who is unwise.”
SC 3The Blessed One knew with his own mind the course of thought in the Venerable Anuruddha’s mind. Then, just as a strong man might extend his drawn-in arm or draw in his extended arm, the Blessed One disappeared from among the Bhaggas at Suṁsumāragira, in the deer park at Bhesakalā Grove, and reappeared before the Venerable Anuruddha among the Cetis in the eastern bamboo park. The Blessed One sat down on the seat prepared for him. The Venerable Anuruddha then paid homage to him and sat down to one side, and the Blessed One said to him: “Good, good, Anuruddha! It is good that you have reflected on these thoughts of a great person, namely: ‘This Dhamma is for one with few desires, not for one with strong desires…. This Dhamma is for one who is wise, not for one who is unwise.’ Therefore, Anuruddha, also reflect on this eighth thought of a great person: (8) ‘This Dhamma is for one who delights in non-proliferation, who takes delight in nonproliferation, not for one who delights in proliferation, who takes delight in proliferation.’
SC 4“When, Anuruddha, you reflect on these eight thoughts of a great person, then, as much as you wish, secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states, an.iv.230 you will enter and dwell in the first jhāna, which consists of rapture and pleasure born of seclusion, accompanied by thought and examination.
SC 5“When you reflect on these eight thoughts of a great person, then, as much as you wish, with the subsiding of thought and examination, you will enter and dwell in the second jhāna, which has internal placidity and unification of mind and consists of rapture and pleasure born of concentration, without thought and examination.
SC 6“When you reflect on these eight thoughts of a great person, then, as much as you wish, with the fading away as well of rapture, you will dwell equanimous and, mindful and clearly comprehending, experience pleasure with the body; you will enter and dwell in the third jhāna of which the noble ones declare: ‘He is equanimous, mindful, one who dwells happily.’
SC 7“When you reflect on these eight thoughts of a great person, then, as much as you wish, with the abandoning of pleasure and pain, and with the previous passing away of joy and sadness, you will enter and dwell in the fourth jhāna, neither painful nor pleasant, which has purification of mindfulness by equanimity.
SC 8“When, Anuruddha, you reflect upon these eight thoughts of a great person and gain at will, without trouble or difficulty, these four jhānas that constitute the higher mind and are pleasant dwellings in this very life, then, while you dwell contentedly, your rag-robe will seem to you as a chest full of variously colored garments seems to a householder or a householder’s son; and it will serve for your delight, relief, and ease, and for entering upon nibbāna. an.iv.231
SC 9“When you reflect upon these eight thoughts of a great person and gain at will … these four jhānas … then, while you dwell contentedly, your scraps of almsfood will seem to you as a dish of rice cleaned of black grains and served with many gravies and curries seems to a householder or a householder’s son; and they will serve for your delight, relief, and ease, and for entering upon nibbāna.
SC 10“When you reflect upon these eight thoughts of a great person and gain at will … these four jhānas … then, while you dwell contentedly, your dwelling place at the foot of a tree will seem to you as a house with a peaked roof, plastered inside and out, draft-free, with bolts fastened and shutters closed, seems to a householder or a householder’s son; and it will serve for your delight, relief, and ease, and for entering upon nibbāna.
SC 11“When you reflect upon those eight thoughts of a great person and gain at will … these four jhānas … then, while you dwell contentedly, your bed and seat made of straw will seem to you as a couch spread with rugs, blankets, and covers, with an excellent covering of antelope hide, with a canopy above and red bolsters at both ends, seems to a householder or a householder’s son; and it will serve for your delight, relief, and ease, and for entering upon nibbāna. an.iv.232
SC 12“When you reflect upon these eight thoughts of a great person and gain at will … these four jhānas … then, while you dwell contentedly, your medicine of fermented cow’s urine will seem to you as various medicaments of ghee, butter, oil, honey, and molasses seem to a householder or a householder’s son; and it will serve for your delight, relief, and ease, and for entering upon nibbāna.
SC 13“Therefore, Anuruddha, you should also spend the next rains residence right here among the Cetis in the eastern bamboo park.”
“Yes, Bhante,” the Venerable Anuruddha replied.
SC 14Then, having exhorted the Venerable Anuruddha, just as a strong man might extend his drawn-in arm or draw in his extended arm, the Blessed One disappeared before the Venerable Anuruddha among the Cetis in the eastern bamboo park and reappeared among the Bhaggas at Suṁsumāragira, in the deer park at Bhesakalā Grove. He then sat down on the seat prepared for him and addressed the bhikkhus: “I will teach you, bhikkhus, the eight thoughts of a great person. Listen and attend closely. I will speak.”
SC 15“Yes, Bhante,” the bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 16“And what, bhikkhus, are the eight thoughts of a great person? (1) This Dhamma is for one with few desires, not for one with strong desires. (2) This Dhamma is for one who is content, not for one who is discontent. (3) This Dhamma is for one who resorts to solitude, not for one who delights in company. (4) This Dhamma is for one who is energetic, not for one who is lazy. (5) This Dhamma is for one with mindfulness established, not for one who is muddle-minded. (6) This Dhamma is for one who is concentrated, not for one who is unconcentrated. (7) This Dhamma is for one who is wise, an.iv.233 not for one who is unwise. (8) This Dhamma is for one who delights in non-proliferation, who takes delight in non-proliferation, not for one who delights in proliferation, who takes delight in proliferation.
SC 17(1) “When it was said: ‘This Dhamma is for one with few desires, not for one with strong desires,’ with reference to what was this said? Here, when a bhikkhu is one with few desires, he does not desire: ‘Let people know me to be one with few desires.’ When he is content, he does not desire: ‘Let people know me to be one who is content.’ When he resorts to solitude, he does not desire: ‘Let people know me to be one who resorts to solitude.’ When he is energetic, he does not desire: ‘Let people know me to be energetic.’ When he is mindful, he does not desire: ‘Let people know me to be mindful.’ When he is concentrated, he does not desire: ‘Let people know me to be concentrated.’ When he is wise, he does not desire: ‘Let people know me to be wise.’ When he delights in non-proliferation, he does not desire: ‘Let people know me to be one who delights in non-proliferation.’ When it was said: ‘This Dhamma is for one with few desires, not for one with strong desires,’ it is with reference to this that this was said.
SC 18(2) “When it was said: ‘This Dhamma is for one who is content, not for one who is discontent,’ with reference to what was this said? Here, a bhikkhu is content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and provisions for the sick. When it was said: ‘This Dhamma is for one who is content, not for one who is discontent,’ it is with reference to this that this was said.
SC 19(3) “When it was said: ‘This Dhamma is for one who resorts to solitude, not for one who delights in company,’ with reference to what was this said? Here, when a bhikkhu resorts to solitude, bhikkhus, bhikkhunīs, male lay followers, female lay followers, kings, royal ministers, heads of other sects, and disciples belonging to other sects approach him. In each case, with a mind that slants, slopes, and inclines to seclusion, withdrawn, delighting in renunciation, he gives them a talk invariably concerned with dismissing them. an.iv.234 When it was said: ‘This Dhamma is for one who resorts to solitude, not for one who delights in company,’ it is with reference to this that this was said.
SC 20(4) “When it was said: ‘This Dhamma is for one who is energetic, not for one who is lazy,’ with reference to what was this said? Here, a bhikkhu has aroused energy for abandoning unwholesome qualities and acquiring wholesome qualities; he is strong, firm in exertion, not casting off the duty of cultivating wholesome qualities. When it was said: ‘This Dhamma is for one who is energetic, not for one who is lazy,’ it is with reference to this that this was said.
SC 21(5) “When it was said: ‘This Dhamma is for one with mindfulness established, not for one who is muddle-minded,’ with reference to what was this said? Here, a bhikkhu is mindful, possessing supreme mindfulness and alertness, one who remembers and recollects what was done and said long ago. When it was said: ‘This Dhamma is for one with mindfulness established, not for one who is muddle-minded,’ it is with reference to this that this was said.
SC 22(6) “When it was said: ‘This Dhamma is for one who is concentrated, not for one who is unconcentrated,’ with reference to what was this said? Here, secluded from sensual pleasures … a bhikkhu enters and dwells in the fourth jhāna. When it was said: ‘This Dhamma is for one who is concentrated, not for one who is unconcentrated,’ it is with reference to this that this was said.
SC 23(7) “When it was said: ‘This Dhamma is for one who is wise, not for one who is unwise,’ with reference to what was this said? Here, a bhikkhu is wise; he possesses the wisdom that discerns arising and passing away, which is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering. When it was said: ‘This Dhamma is for one who is wise, not for one who is unwise,’ it is with reference to this that this was said. an.iv.235
SC 24(8) “When it was said: ‘This Dhamma is for one who delights in non-proliferation, who takes delight in non-proliferation, not for one who delights in proliferation, who takes delight in proliferation,’ with reference to what was this said? Here, a bhikkhu’s mind launches out upon the cessation of proliferation, becomes placid, settles down, and is liberated in it. When it was said: ‘This Dhamma is for one who delights in non-proliferation, who takes delight in non-proliferation, not for one who delights in proliferation, who takes delight in proliferation,’ it is with reference to this that this was said.”
SC 25Then the Venerable Anuruddha spent the next rains residence right there among the Cetis in the eastern bamboo park. Dwelling alone, withdrawn, heedful, ardent, and resolute, in no long time the Venerable Anuruddha realized for himself with direct knowledge, in this very life, that unsurpassed consummation of the spiritual life for the sake of which clansmen rightly go forth from the household life into homelessness, and having entered upon it, he dwelled in it. He directly knew: “Destroyed is birth, the spiritual life has been lived, what had to be done has been done, there is no more coming back to any state of being.” And the Venerable Anuruddha became one of the arahants.
SC 26On that occasion, when he had attained arahantship, the Venerable Anuruddha spoke these verses:
SC 27“Having understood my thoughts,
the unsurpassed teacher in the world
came to me by psychic potency
in a mind-made body.
SC 28“He taught me more
than my thoughts contained:
the Buddha, delighting in non-proliferation,
instructed me in non-proliferation.
SC 29“Having learned his Dhamma,
I delighted in his teaching.
I have gained the three true knowledges;
the Buddha’s teaching has been done.” an.iv.236
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakala, vườn Lộc Uyển. Lúc bấy giờ, Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đà) sống giữa dân chúng Celì, tại Pàcìnavamsadàya, Rồi Tôn giả Anuruddha, trong khi sống độc cư … Thiền tịnh, tâm tư khởi lên như sau: “Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục; Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Pháp này để cho người có trí tuệ, pháp này không phải để cho người ác tuệ”.
TTC 2Rồi Thế Tôn với tâm của mình rõ biết tâm tư của Tôn giả Anuruddha, ví như người lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại; hay co lại bàn tay đang duỗi ra; cũng vậy, Thế Tôn biến mất ở giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển, và hiện ra giữa dân chúng Celì, tại Pàcìnavamsadàya, trước mặt Tôn giả Anuruddha. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Anuruddha đang ngồi một bên:
TTC 3—Lành thay, lành thay, này Anuruddha! Lành thay, này Anuruddha, Thầy đã suy nghĩ đến bảy niệm của bậc Ðại nhân: “ Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục; Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Pháp này để cho người có trí tuệ, pháp này không phải để cho người ác tuệ”.
Do vậy, này Anuruddha, hãy suy nghĩ đến niệm thứ tám này của bậc Ðại nhân: “Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận “.
TTC 4Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ.
TTC 5Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, diệt tầm diệt tứ, Thầy sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
TTC 6Khi nào, này Anuruddha, khi nào Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “xả niệm lạc trú”, chứng và an trú Thiền thứ ba.
TTC 7Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, Thầy sẽ xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
TTC 8Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, tấm y lượm từ đống rác lên của Thầy sẽ giống như tủ áo đầy những vải có nhiều màu sắc của người gia chủ hay con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 9Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, thời nếu Thầy muốn, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, các món ăn từng miếng Thầy khất thực được sẽ giống như món cơm bằng gạo trắng, các hạt đen đã được lượm sạch, với nhiều loại súp, với nhiều loại đồ ăn của người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 10Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, chỗ nằm dưới gốc cây thầy sẽ giống như nhà có nóc nhọn, có trét hồ trong ngoài, cửa được cài then, cửa sổ được đóng lại ngăn chặn gió của người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 11Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, giường nằm và chỗ ngồi trải với đệm cỏ của Thầy sẽ giống như ghế dài, nệm trải giường nằm bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bằng da con sơn dương gọi là kadali, tấm thảm với đầu che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 12Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, dược phẩm nước tiểu hôi của Thầy sẽ giống như các loại dược phẩm của các người gia chủ, hay của con người gia chủ, như thục tô, sanh tô, dầu, mật, đường bánh, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
TTC 13Vậy này Anuruddha, nhân kỳ an cư mùa mưa sắp đến, hãy trú giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Anuruddha vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn sau khi khuyến giáo Tôn giả Anuruddha với lời khuyến giáo này, như người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất giữa dân chúng Cetì ở Pàcìnavamsadàya và hiện ra giữa dân chúng Bhagga, trên núi Sumsumàra trong rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển. Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
TTC 14—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết tám tư niệm của bậc Ðại nhân cho các Thầy. Hãy lắng nghe và khéo tư niệm, Ta sẽ giảng:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
—Này các Tỷ-kheo, thế nào là tám tư niệm của bậc Ðại nhân?
TTC 15Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không phải để cho người nhiều dục; Này các Tỷ kheo,Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Này các Tỷ kheo,Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Này các Tỷ kheo, Pháp này để cho người có trí tuệ, Pháp này không phải để cho người ác tuệ; Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận.
TTC 16Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không để cho người có dục lớn”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 17Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo ít dục không muốn: “Mong người ta biết tôi là ít dục”; biết đủ, không muốn: “Mong người ta biết tôi là biết đủ”; sống viễn ly, không muốn: “Mong người ta biết tôi sống viễn ly”; tinh cần tinh tấn, không muốn: “Mong người ta biết tôi sống tinh cần tinh tấn”; trú niệm, không muốn: “Mong người ta biết tôi trú niệm”; có định, không muốn: “Mong người ta biết tôi có định”; có tuệ, không muốn: “Mong người ta biết tôi là người có tuệ “; không thích hý luận, không muốn: “Mong người ta biết tôi không thích hý luận”. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người ít dục, Pháp này không để cho người có dục lớn”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 18Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người biết đủ, Pháp này không để cho người không biết đủ”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 19Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ vật dụng gì như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người biết đủ, Pháp này không phải để cho người không biết đủ”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 20Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người sống viễn ly, “Pháp này không phải để cho người ưa thích hội chúng”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 21Ở đây, này các Tỷ-kheo, Với Tỷ-kheo sống viễn ly, có nhiều người đến thăm như Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-Ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa, đại thần, các ngoại đạo sư, đệ tử của các ngoại đạo sư. Ở đây, Tỷ-kheo với tâm thuận về viễn ly, hướng về viễn ly, nhập vào viễn ly, trú vào viễn ly, thích thú xuất ly, nói lời hoàn toàn liên hệ đến lánh xa. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người viễn ly, “Pháp này không phải để cho người không ưa hội chúng”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 22Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, “Pháp này không phải để cho người biếng nhác”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 23Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn, đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu các Pháp thiện, nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, “Pháp này không phải để cho người biếng nhác”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 24Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người trú niệm, “Pháp này không phải để cho người thất niệm”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 25Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức nhớ tùy niệm những điều đã làm, nói đã lâu. Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người trú niệm, Pháp này không phải để cho người thất niệm”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 26Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người thiền định, “Pháp này không phải để cho người không thiền định”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 27Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp … chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người thiền định, “Pháp này không phải để cho người không thiền định”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 28Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người có trí tuệ, “Pháp này không phải để cho người không trí tuệ”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 29Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập (quyết trạch), đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này các Tỷ-kheo, “Pháp này để cho người có trí tuệ, Pháp này không phải để cho người không trí tuệ”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy
TTC 30Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, “Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận”, như vậy đã được nói đến. Do duyên gì được nói như vậy?
TTC 31Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với đoạn diệt hý luận, tâm được phấn chấn, tịnh tín, an trú, hướng đến. Này các Tỷ-kheo, Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, “Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận”, đã được nói đến như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
TTC 32Rồi Tôn giả Anuruddha, mùa mưa an cư đến, đến trú ở giữa dân chúng Cetì, tại Pacìnavamsadàya. Rồi Tôn giả Anuruddha sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, do mục đích gì, các Thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, tức là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, vị ấy tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng nhập và an trú. Vị ấy chứng rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui lại trạng thái này nữa” và Tôn giả Anuruddha trở thành một vị A-la-hán nữa. Rồi Tôn Giả Anuruđha chứng được A-la-hán ngay trong thời gian ấy, nói lên những bài kệ này:
Thế gian vô thượng sư
Rõ biết tư tưởng ta
Với thân do ý tạo
Thần thông đến với ta
Tùy theo ta nghĩ gì
Ngài thuyết rõ tất cả
Phật không ưa hý luận
Ngài thuyết, không hý luận
Ngộ pháp, ta hoan hỷ
Trú trong giáo pháp ngài
Ba minh đã đạt được
Giáo pháp Phật làm xong.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā bhaggesu viharati suṁsumāragire bhesakaḷāvane migadāye.
Tena kho pana samayena āyasmā anuruddho cetīsu viharati pācīnavaṁsadāye.
Atha kho āyasmato anuruddhassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“appicchassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa;
santuṭṭhassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa;
pavivittassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa;
āraddhavīriyassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa;
upaṭṭhitassatissāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa;
samāhitassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa;
paññavato ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā”ti.
Atha kho bhagavā āyasmato anuruddhassa cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ—bhaggesu susumāragire bhesakaḷāvane migadāye antarahito cetīsu pācīnavaṁsadāye āyasmato anuruddhassa sammukhe pāturahosi.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Āyasmāpi kho anuruddho bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ anuruddhaṁ bhagavā etadavoca:
“Sādhu sādhu, anuruddha.
Sādhu kho tvaṁ, anuruddha, yaṁ taṁ mahāpurisavitakkaṁ vitakkesi:
‘appicchassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa;
santuṭṭhassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa;
pavivittassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa;
āraddhavīriyassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa;
upaṭṭhitassatissāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa;
samāhitassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa;
paññavato ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā’ti.
Tena hi tvaṁ, anuruddha, imampi aṭṭhamaṁ mahāpurisavitakkaṁ vitakkehi:
‘nippapañcārāmassāyaṁ dhammo nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṁ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharissasi.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṁ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharissasi.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṁ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharissasi sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedissasi yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharissasi.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, tato tvaṁ, anuruddha, yāvadeva ākaṅkhissasi, sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharissasi.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nānārattānaṁ dussānaṁ dussakaraṇḍako pūro;
evamevaṁ te paṁsukūlacīvaraṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā sālīnaṁ odano vicitakāḷako anekasūpo anekabyañjano;
evamevaṁ te piṇḍiyālopabhojanaṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā kūṭāgāraṁ ullittāvalittaṁ nivātaṁ phusitaggaḷaṁ pihitavātapānaṁ;
evamevaṁ te rukkhamūlasenāsanaṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā pallaṅko gonakatthato paṭikatthato paṭalikatthato kadalimigapavarapaccattharaṇo sauttaracchado ubhatolohitakūpadhāno;
evamevaṁ te tiṇasanthārakasayanāsanaṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nānābhesajjāni, seyyathidaṁ—sappi navanītaṁ telaṁ madhu phāṇitaṁ;
evamevaṁ te pūtimuttabhesajjaṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Tena hi tvaṁ, anuruddha, āyatikampi vassāvāsaṁ idheva cetīsu pācīnavaṁsadāye vihareyyāsī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā anuruddho bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ anuruddhaṁ iminā ovādena ovaditvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evamevaṁ—cetīsu pācīnavaṁsadāye antarahito bhaggesu susumāragire bhesakaḷāvane migadāye pāturahosīti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“aṭṭha kho, bhikkhave, mahāpurisavitakke desessāmi, taṁ suṇātha …pe…
katame ca, bhikkhave, aṭṭha mahāpurisavitakkā?
Appicchassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa;
santuṭṭhassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa;
pavivittassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa;
āraddhavīriyassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa;
upaṭṭhitassatissāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa;
samāhitassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa;
paññavato ayaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassa;
nippapañcārāmassāyaṁ, bhikkhave, dhammo nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino.
‘Appicchassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassā’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu appiccho samāno ‘appicchoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, santuṭṭho samāno ‘santuṭṭhoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, pavivitto samāno ‘pavivittoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, āraddhavīriyo samāno ‘āraddhavīriyoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, upaṭṭhitassati samāno ‘upaṭṭhitassatīti maṁ jāneyyun’ti na icchati, samāhito samāno ‘samāhitoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, paññavā samāno ‘paññavāti maṁ jāneyyun’ti na icchati, nippapañcārāmo samāno ‘nippapañcārāmoti maṁ jāneyyun’ti na icchati.
‘Appicchassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Santuṭṭhassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassā’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena.
‘Santuṭṭhassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Pavivittassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassā’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno pavivittassa viharato bhavanti upasaṅkamitāro bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo rājāno rājamahāmattā titthiyā titthiyasāvakā.
Tatra bhikkhu vivekaninnena cittena vivekapoṇena vivekapabbhārena vivekaṭṭhena nekkhammābhiratena aññadatthu uyyojanikapaṭisaṁyuttaṁyeva kathaṁ kattā hoti.
‘Pavivittassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Āraddhavīriyassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassā’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
‘Āraddhavīriyassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Upaṭṭhitassatissāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissā’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu satimā hoti paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
‘Upaṭṭhitassatissāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo, muṭṭhassatissā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Samāhitassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassā’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
‘Samāhitassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Paññavato ayaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
‘Paññavato ayaṁ, bhikkhave, dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Nippapañcārāmassāyaṁ, bhikkhave, dhammo nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Idha, bhikkhave, bhikkhuno papañcanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
‘Nippapañcārāmassāyaṁ, bhikkhave, dhammo, nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Atha kho āyasmā anuruddho āyatikampi vassāvāsaṁ tattheva cetīsu pācīnavaṁsadāye vihāsi.
Atha kho āyasmā anuruddho eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro ca panāyasmā anuruddho arahataṁ ahosīti.
Atha kho āyasmā anuruddho arahattappatto tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
“Mama saṅkappamaññāya,
satthā loke anuttaro;
Manomayena kāyena,
iddhiyā upasaṅkami.
Yathā me ahu saṅkappo,
tato uttari desayi;
Nippapañcarato buddho,
nippapañcaṁ adesayi.
Tassāhaṁ dhammamaññāya,
vihāsiṁ sāsane rato;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
Dasamaṁ.
Gahapativaggo tatiyo.
Tassuddānaṁ
Dve uggā dve ca hatthakā,
mahānāmena jīvako;
Dve balā akkhaṇā vuttā,
anuruddhena te dasāti.