TTC 1—Này các Tỷ-kheo, xa trông như thế nào là nước Kàsi Kosalà, xa rộng như thế nào, là sự trị vì của vua Pasanadi nước Kosalà, trong phạm vi như vậy, vua Pasenadi nước Kosalà được xem là tối thượng. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vua Pasenadi, nước Kosalà có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong (vấn đề) ấy; do nhàm chán trong (vấn đề) ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, xa cho đến mặt trăng, mặt trời di chuyển, xoay chuyển, chói sáng các phương, cho đến như vậy là ngàn thế giới. Trong ngàn thế giới ấy, có 1.000 mặt trăng, có 1000 mặt trời, có 1000 vua núi Sineru, có 1000 cõi Diêm phù đề, 1000 Tây ngưu Hóa châu, 1000 Bắc-cu-lô-chân, 1000 Ðông thắng Thần châu, 4000 biển lớn, 4000 Ðại vương, 1000 Bốn đại Thiên vương, 1000 Tam thập tam thiên, 1000 Dạ-ma-thiên, 1000 Ðâu-suất thiên, 1000 Hóa lạc thiên, 1000 Tha hóa Tự tại thiên, 1000 Phạm thiên giới. Này các Tỷ-kheo, xa rộng cho đến 1000 thế giới, Ðại phạm Thiên ở đấy được xem là tối thượng. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Ðại Phạm thiên có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong (Ðại Phạm thiên) ấy, do nhàm chán trong (Ðại Phạm thiên) ấy, từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 3Này các Tỳ-kheo, có một thời, đến thời ấy, thế giới này chuyển hoại, trong khi thế giới chuyển hoại, này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang âm thiên). Ở tại đấy, chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này các Tỷ-kheo, trong khi thế giới chuyển hoại, các Quang âm thiên được xem là tối thượng. Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với chư Quang âm thiên, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong (chư Quang âm thiên) ấy; do nhàm chán trong (Quang âm thiên) ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này. Thế nào là mười?
Một người tưởng tri Thiền án đất, phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Một người tưởng tri Thiền án nước… một người tưởng tri Thiền án lửa… một người tưởng tri Thiền án gió, một người tưởng tri Thiền án xanh… một người tưởng tri Thiền án vàng… một người tưởng tri Thiền án đỏ… một người tưởng tri Thiền án trắng… một người tưởng tri Thiền án hư không… một người tưởng tri Thiền án thức, phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng.
Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này.
TTC 5Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong mười Thiền án xứ này, tức là Thiền án thức. Có người tưởng tri phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong ấy; do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì với hạ liệt.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này. Thế nào là tám?
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ nhất.
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thư hai.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, Ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ ba.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ tư.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta thấy, ta biết”. Ðó là thắng xứ thứ năm.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông kannikàra màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoài sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ sáu.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ—như bông bandhujìvaka màu đỏ, như lụa Ba-la-nại, cả ai mặt láng trơn, màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ,…ánh sáng đỏ. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ bảy.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng thứ tám.
Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này.
TTC 7Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong tám thắng xứ này, tức là có người tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng màu trắng, hình sắc màu trắng, ánh sáng trắng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nó gì đối với hạ liệt.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường này. Thế nào là bốn?
Con đường khổ thắng tri chậm; con đường khổ thắng tri mau; con đường lạc thắng tri chậm; con đường lạc thắng tri mau.
Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường này.
TTC 9Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong bốn con đường này, tức là con đường lạc thắng tri mau. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh thực hành như vậy. Ðối với các chúng sanh thực hành như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này. Thế nào là bốn?
Có người tưởng tri có hạn lượng. Có người tưởng tri đại hành. Có người tưởng tri vô lượng. Có người tưởng tri Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Không có sự vật gì”.
Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này.
TTC 11Các này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong bốn tưởng này, tức là có người tưởng tri Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Không có sự vật gì”. Này các Tỷ-kheo có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến thoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 12Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các thành kiến của các dị học, tức là: “Nếu ta không có trong lúc ấy, thời nay đã không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”. Với người có tri kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, có thể chờ đợi như sau: Sự không nhàm chán này đối với hữu sẽ không có đối với người ấy. Sự nhàm chán này đối với hữu diệt sẽ không có đối với người ấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tri kiến như vậy. Ðối với chúng sanh có tri kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với các hạ liệt.
TTC 13Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn… tuyên bố thanh tịnh là mục đích tối thắng.
TTC 14Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các vị tuyên bố thanh tịnh là mục đích tối thắng, tức là sự vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, sự chứng đạt và an trú Phi tưởng phi tưởng xứ. Họ thuyết pháp để thắng tri cái ấy, để giác ngộ cái ấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, đối với các chúng sanh có nói như vậy, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì với các hạ liệt.
TTC 15Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Ba-la-môn… tuyên bố hiện tại Niết-bàn là mục đích tối thắng.
TTC 16Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các vị tuyên bố hiện tại Niết-bàn là mục đích tối thắng, tức là sau khi như thật sự tập khởi, sự chấm dứt vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xúc xứ, được giải thoát không có chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, Ta là người đã nói như vậy, đã tuyên bố như vậy. Và một số Sa-môn, Ba-la-môn xuyên tạc Ta với điều không thật là phi hữu, trống không, nói láo, nói rằng: “Sa-môn Gotama không tuyên bố sự liễu tri các dục, không tuyên bố sự liễu tri các sắc, không tuyên bố sự liễu tri các thọ”.
TTC 17Và này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố sự liễu tri các dục, Ta tuyên bố sự liễu tri các sắc, ta tuyên bố sự liễu tri các thọ, Ta tuyên bố ngay trong hiện tại sự vô dục, tịch diệt, thanh lương không chấp thủ, Bát-niết-bàn.
“Yāvatā, bhikkhave, kāsikosalā, yāvatā rañño pasenadissa kosalassa vijitaṁ, rājā tattha pasenadi kosalo aggamakkhāyati.
Raññopi kho, bhikkhave, pasenadissa kosalassa attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Yāvatā, bhikkhave, candimasūriyā pariharanti disā bhanti virocamānā, tāva sahassadhā loko.
Tasmiṁ sahassadhā loke sahassaṁ candānaṁ sahassaṁ sūriyānaṁ sahassaṁ sinerupabbatarājānaṁ sahassaṁ jambudīpānaṁ sahassaṁ aparagoyānānaṁ sahassaṁ uttarakurūnaṁ sahassaṁ pubbavidehānaṁ cattāri mahāsamuddasahassāni cattāri mahārājasahassāni sahassaṁ cātumahārājikānaṁ sahassaṁ tāvatiṁsānaṁ sahassaṁ yāmānaṁ sahassaṁ tusitānaṁ sahassaṁ nimmānaratīnaṁ sahassaṁ paranimmitavasavattīnaṁ sahassaṁ brahmalokānaṁ.
Yāvatā, bhikkhave, sahassī lokadhātu, mahābrahmā tattha aggamakkhāyati.
Mahābrahmunopi kho, bhikkhave, attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Hoti so, bhikkhave, samayo yaṁ ayaṁ loko saṁvaṭṭati.
Saṁvaṭṭamāne, bhikkhave, loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā bhavanti.
Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhecarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
Saṁvaṭṭamāne, bhikkhave, loke ābhassarā devā aggamakkhāyanti.
Ābhassarānampi kho, bhikkhave, devānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Dasayimāni, bhikkhave, kasiṇāyatanāni.
Katamāni dasa?
Pathavīkasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ;
āpokasiṇameko sañjānāti …pe…
tejokasiṇameko sañjānāti …
vāyokasiṇameko sañjānāti …
nīlakasiṇameko sañjānāti …
pītakasiṇameko sañjānāti …
lohitakasiṇameko sañjānāti …
odātakasiṇameko sañjānāti …
ākāsakasiṇameko sañjānāti …
viññāṇakasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, dasa kasiṇāyatanāni.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ dasannaṁ kasiṇāyatanānaṁ yadidaṁ viññāṇakasiṇaṁ eko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ.
Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Aṭṭhimāni, bhikkhave, abhibhāyatanāni.
Katamāni aṭṭha?
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ;
evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ;
evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ;
evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ;
evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, aṭṭha abhibhāyatanāni.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ aṭṭhannaṁ abhibhāyatanānaṁ yadidaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Catasso imā, bhikkhave, paṭipadā.
Katamā catasso?
Dukkhā paṭipadā dandhābhiññā,
dukkhā paṭipadā khippābhiññā,
sukhā paṭipadā dandhābhiññā,
sukhā paṭipadā khippābhiññā—
imā kho, bhikkhave, catasso paṭipadā.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imāsaṁ catunnaṁ paṭipadānaṁ yadidaṁ sukhā paṭipadā khippābhiññā.
Evaṁpaṭipannāpi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁpaṭipannānampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Catasso imā, bhikkhave, saññā.
Katamā catasso?
Parittameko sañjānāti,
mahaggatameko sañjānāti,
appamāṇameko sañjānāti,
‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanameko sañjānāti—
imā kho, bhikkhave, catasso saññā.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imāsaṁ catunnaṁ saññānaṁ yadidaṁ ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanameko sañjānāti.
Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Etadaggaṁ, bhikkhave, bāhirakānaṁ diṭṭhigatānaṁ yadidaṁ ‘no cassaṁ, no ca me siyā, na bhavissāmi, na me bhavissatī’ti.
Evaṁdiṭṭhino, bhikkhave, etaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘yā cāyaṁ bhave appaṭikulyatā, sā cassa na bhavissati;
yā cāyaṁ bhavanirodhe pāṭikulyatā, sā cassa na bhavissatī’ti.
Evaṁdiṭṭhinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁdiṭṭhīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā paramatthavisuddhiṁ paññāpenti.
Etadaggaṁ, bhikkhave, paramatthavisuddhiṁ paññapentānaṁ yadidaṁ sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Te tadabhiññāya tassa sacchikiriyāya dhammaṁ desenti.
Evaṁvādinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁvādīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññāpenti.
Etadaggaṁ, bhikkhave, paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapentānaṁ yadidaṁ channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādā vimokkho.
Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhikkhave, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti:
‘samaṇo gotamo na kāmānaṁ pariññaṁ paññāpeti, na rūpānaṁ pariññaṁ paññāpeti, na vedanānaṁ pariññaṁ paññāpetī’ti.
Kāmānañcāhaṁ, bhikkhave, pariññaṁ paññāpemi, rūpānañca pariññaṁ paññāpemi, vedanānañca pariññaṁ paññāpemi, diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītibhūto anupādā parinibbānaṁ paññāpemī”ti.
Navamaṁ.
SC 1(1) “Bhikkhus, as far as Kāsi and Kosala extend, as far as the realm of King Pasenadi of Kosala extends, there King Pasenadi of Kosala ranks as the foremost. But even for King Pasenadi there is alteration; there is change. Seeing this thus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 2(2) “Bhikkhus, as far as sun and moon revolve and light up the quarters with their brightness, so far the thousandfold world system extends. In that thousandfold world system there are a thousand moons, a thousand suns, a thousand Sinerus king of mountains, a thousand Jambudīpas, a thousand Aparagoyānas, a thousand Uttarakurus, a thousand Pubbavidehas, and a thousand four great oceans; a thousand four great kings, a thousand heavens ruled by the four great kings, a thousand Tāvatiṁsa heavens, a thousand Yāma heavens, a thousand Tusita heavens, a thousand heavens of devas who delight in creation, a thousand heavens of devas who control what is created by others, a thousand brahmā worlds. As far, bhikkhus, as this thousandfold world system extends, Mahābrahmā an.v.60 there ranks as the foremost. But even for Mahābrahmā there is alteration; there is change. Seeing this thus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 3(3) “There comes a time, bhikkhus, when this world dissolves. When the world is dissolving, beings for the most part migrate to the devas of streaming radiance. There they exist mind-made, feeding on rapture, self-luminous, moving through the skies, living in glory, and they remain thus for a very long time. When the world is dissolving, the devas of streaming radiance rank as the foremost. But even for these devas there is alteration; there is change. Seeing this thus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 4(4) “Bhikkhus, there are these ten kasiṇa bases. What ten? One person perceives the earth kasiṇa above, below, across, undivided, measureless. One person perceives the water kasiṇa … the fire kasiṇa … the air kasiṇa … the blue kasiṇa … the yellow kasiṇa … the red kasiṇa … the white kasiṇa … the space kasiṇa … the consciousness kasiṇa above, below, across, undivided, measureless. These are the ten kasiṇa bases. Of these ten kasiṇa bases, this is the foremost, namely, when one perceives the consciousness kasiṇa above, below, across, undivided, measureless. There are beings who are percipient in such a way. But even for beings who are percipient in such a way there is alteration; there is change. Seeing this thus, an.v.61 bhikkhus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 5(5) “Bhikkhus, there are these eight bases of overcoming. What eight?
SC 6i “One percipient of forms internally sees forms externally, limited, beautiful or ugly. Having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ This is the first basis of overcoming.
SC 7ii “One percipient of forms internally sees forms externally, measureless, beautiful or ugly. Having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ This is the second basis of overcoming.
SC 8iii “One not percipient of forms internally sees forms externally, limited, beautiful or ugly. Having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ This is the third basis of overcoming.
SC 9iv “One not percipient of forms internally sees forms externally, measureless, beautiful or ugly. Having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ This is the fourth basis of overcoming.
SC 10v “One not percipient of forms internally sees forms externally, blue ones, blue in color, with a blue hue, with a blue tint. Just as the flax flower is blue, blue in color, with a blue hue, with a blue tint, or just as Bārāṇasī cloth, smoothened on both sides, might be blue, blue in color, with a blue hue, with a blue tint, so too, one not percipient of forms internally sees forms externally, blue ones…. Having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ This is the fifth basis of overcoming.
SC 11vi “One not percipient of forms internally sees forms externally, yellow ones, with a yellow hue, with a yellow tint. Just as the kaṇikāra flower is yellow, yellow in color, with a yellow hue, with a yellow tint, or just as Bārāṇasī cloth, an.v.62 smoothened on both sides, might be yellow, yellow in color, with a yellow hue, with a yellow tint, so too, one not percipient of forms internally sees forms externally, yellow ones…. Having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ This is the sixth basis of overcoming.
SC 12vii “One not percipient of forms internally sees forms externally, red ones, with a red hue, with a red tint. Just as the bandhujīvaka flower is red, red in color, with a red hue, with a red tint, or just as Bārāṇasī cloth, smoothened on both sides, might be red, red in color with a red hue, with a red tint, so too, one not percipient of forms internally sees forms externally, red ones…. Having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ This is the seventh basis of overcoming.
SC 13viii “One not percipient of forms internally sees forms externally, white ones, white in color, with a white hue, with a white tint. Just as the morning star is white, white in color, with a white hue, with a white tint, or just as Bārāṇasī cloth, smoothened on both sides, might be white, white in color, with a white hue, with a white tint, so too, one not percipient of forms internally sees forms externally, white ones…. Having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ This is the eighth basis of overcoming.
SC 14“These are the eight bases of overcoming. Of these eight bases of overcoming, this is the foremost, namely, that one not percipient of forms internally sees forms externally, white ones, white in color with a white hue, with a white tint, and having overcome them, he is percipient thus: ‘I know, I see.’ There are beings who are percipient in such a way. But even for beings who are percipient in such a way there is an.v.63 alteration; there is change. Seeing this thus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 15(6) “Bhikkhus, there are these four modes of practice. What four? Practice that is painful with sluggish direct knowledge; practice that is painful with quick direct knowledge; practice that is pleasant with sluggish direct knowledge; and practice that is pleasant with quick direct knowledge. These are the four modes of practice. Of these four modes of practice, this is the foremost, namely, practice that is pleasant with quick direct knowledge. There are beings who practice in such a way. But even for beings who practice in such a way there is alteration; there is change. Seeing this thus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 16(7) “Bhikkhus, there are these four modes of perception. What four? One person perceives what is limited; another perceives what is exalted; another perceives what is measureless; and still another, perceiving ‘There is nothing,’ perceives the base of nothingness. These are the four modes of perception. Of these four modes of perception, this is the foremost, namely, when, perceiving ‘There is nothing,’ one perceives the base of nothingness. There are beings who perceive in such a way. But even for beings who perceive in such a way there is alteration; there is change. Seeing this thus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 17(8) “Bhikkhus, of the speculative views held by outsiders, this is the foremost, namely: ‘I might not be and it might not be mine; I shall not be, and it will not be mine.’ For it can be expected that one who holds such a view will not be unrepelled by existence an.v.64 and will not be repelled by the cessation of existence. There are beings who hold such a view. But even for beings who hold such a view there is alteration; there is change. Seeing this thus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 18(9) “Bhikkhus, there are some ascetics and brahmins who proclaim supreme purification. Of those who proclaim supreme purification, this is the foremost, namely, by completely surmounting the base of nothingness, one enters and dwells in the base of neither-perception-nor-non-perception. They teach their Dhamma for the direct knowledge and realization of this. There are beings who assert thus. But even for those who assert thus, there is alteration; there is change. Seeing this thus, the instructed noble disciple becomes disenchanted with it; being disenchanted, he becomes dispassionate toward the foremost, not to speak of what is inferior.
SC 19(10) “Bhikkhus, there are some ascetics and brahmins who proclaim supreme nibbāna in this very life. Of those who proclaim supreme nibbāna in this very life, this is the foremost, namely, emancipation through non-clinging after one has seen as they really are the origin and passing away, the gratification, danger, and escape in regard to the six bases for contact.
SC 20“Bhikkhus, though I assert and declare my teaching in such a way, some ascetics and brahmins untruthfully, baselessly, falsely, and wrongly misrepresent me, by saying: ‘The ascetic Gotama does not proclaim the full understanding of sensual pleasures, the full understanding of forms, or the full understanding of feelings.’ an.v.65 But, bhikkhus, I do proclaim the full understanding of sensual pleasures, the full understanding of forms, and the full understanding of feelings. In this very life, hungerless, quenched, and cooled, I proclaim final nibbāna through non-clinging.”
TTC 1—Này các Tỷ-kheo, xa trông như thế nào là nước Kàsi Kosalà, xa rộng như thế nào, là sự trị vì của vua Pasanadi nước Kosalà, trong phạm vi như vậy, vua Pasenadi nước Kosalà được xem là tối thượng. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vua Pasenadi, nước Kosalà có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong (vấn đề) ấy; do nhàm chán trong (vấn đề) ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 2Này các Tỷ-kheo, xa cho đến mặt trăng, mặt trời di chuyển, xoay chuyển, chói sáng các phương, cho đến như vậy là ngàn thế giới. Trong ngàn thế giới ấy, có 1.000 mặt trăng, có 1000 mặt trời, có 1000 vua núi Sineru, có 1000 cõi Diêm phù đề, 1000 Tây ngưu Hóa châu, 1000 Bắc-cu-lô-chân, 1000 Ðông thắng Thần châu, 4000 biển lớn, 4000 Ðại vương, 1000 Bốn đại Thiên vương, 1000 Tam thập tam thiên, 1000 Dạ-ma-thiên, 1000 Ðâu-suất thiên, 1000 Hóa lạc thiên, 1000 Tha hóa Tự tại thiên, 1000 Phạm thiên giới. Này các Tỷ-kheo, xa rộng cho đến 1000 thế giới, Ðại phạm Thiên ở đấy được xem là tối thượng. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Ðại Phạm thiên có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong (Ðại Phạm thiên) ấy, do nhàm chán trong (Ðại Phạm thiên) ấy, từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 3Này các Tỳ-kheo, có một thời, đến thời ấy, thế giới này chuyển hoại, trong khi thế giới chuyển hoại, này các Tỷ-kheo, các loài hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang âm thiên). Ở tại đấy, chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này các Tỷ-kheo, trong khi thế giới chuyển hoại, các Quang âm thiên được xem là tối thượng. Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với chư Quang âm thiên, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong (chư Quang âm thiên) ấy; do nhàm chán trong (Quang âm thiên) ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 4Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này. Thế nào là mười?
Một người tưởng tri Thiền án đất, phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Một người tưởng tri Thiền án nước… một người tưởng tri Thiền án lửa… một người tưởng tri Thiền án gió, một người tưởng tri Thiền án xanh… một người tưởng tri Thiền án vàng… một người tưởng tri Thiền án đỏ… một người tưởng tri Thiền án trắng… một người tưởng tri Thiền án hư không… một người tưởng tri Thiền án thức, phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng.
Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này.
TTC 5Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong mười Thiền án xứ này, tức là Thiền án thức. Có người tưởng tri phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong ấy; do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì với hạ liệt.
TTC 6Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này. Thế nào là tám?
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ nhất.
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thư hai.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, Ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ ba.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ tư.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta thấy, ta biết”. Ðó là thắng xứ thứ năm.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông kannikàra màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoài sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ sáu.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ—như bông bandhujìvaka màu đỏ, như lụa Ba-la-nại, cả ai mặt láng trơn, màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ,…ánh sáng đỏ. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng xứ thứ bảy.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Ðó là thắng thứ tám.
Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này.
TTC 7Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong tám thắng xứ này, tức là có người tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng màu trắng, hình sắc màu trắng, ánh sáng trắng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau: “Ta biết, ta thấy”. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nó gì đối với hạ liệt.
TTC 8Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường này. Thế nào là bốn?
Con đường khổ thắng tri chậm; con đường khổ thắng tri mau; con đường lạc thắng tri chậm; con đường lạc thắng tri mau.
Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường này.
TTC 9Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong bốn con đường này, tức là con đường lạc thắng tri mau. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh thực hành như vậy. Ðối với các chúng sanh thực hành như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 10Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này. Thế nào là bốn?
Có người tưởng tri có hạn lượng. Có người tưởng tri đại hành. Có người tưởng tri vô lượng. Có người tưởng tri Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Không có sự vật gì”.
Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này.
TTC 11Các này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong bốn tưởng này, tức là có người tưởng tri Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng: “Không có sự vật gì”. Này các Tỷ-kheo có những chúng sanh có tưởng như vậy. Ðối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến thoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với hạ liệt.
TTC 12Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các thành kiến của các dị học, tức là: “Nếu ta không có trong lúc ấy, thời nay đã không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta”. Với người có tri kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, có thể chờ đợi như sau: Sự không nhàm chán này đối với hữu sẽ không có đối với người ấy. Sự nhàm chán này đối với hữu diệt sẽ không có đối với người ấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tri kiến như vậy. Ðối với chúng sanh có tri kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì đối với các hạ liệt.
TTC 13Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn… tuyên bố thanh tịnh là mục đích tối thắng.
TTC 14Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các vị tuyên bố thanh tịnh là mục đích tối thắng, tức là sự vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, sự chứng đạt và an trú Phi tưởng phi tưởng xứ. Họ thuyết pháp để thắng tri cái ấy, để giác ngộ cái ấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, đối với các chúng sanh có nói như vậy, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, còn nói gì với các hạ liệt.
TTC 15Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Ba-la-môn… tuyên bố hiện tại Niết-bàn là mục đích tối thắng.
TTC 16Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các vị tuyên bố hiện tại Niết-bàn là mục đích tối thắng, tức là sau khi như thật sự tập khởi, sự chấm dứt vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xúc xứ, được giải thoát không có chấp thủ. Này các Tỷ-kheo, Ta là người đã nói như vậy, đã tuyên bố như vậy. Và một số Sa-môn, Ba-la-môn xuyên tạc Ta với điều không thật là phi hữu, trống không, nói láo, nói rằng: “Sa-môn Gotama không tuyên bố sự liễu tri các dục, không tuyên bố sự liễu tri các sắc, không tuyên bố sự liễu tri các thọ”.
TTC 17Và này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố sự liễu tri các dục, Ta tuyên bố sự liễu tri các sắc, ta tuyên bố sự liễu tri các thọ, Ta tuyên bố ngay trong hiện tại sự vô dục, tịch diệt, thanh lương không chấp thủ, Bát-niết-bàn.
“Yāvatā, bhikkhave, kāsikosalā, yāvatā rañño pasenadissa kosalassa vijitaṁ, rājā tattha pasenadi kosalo aggamakkhāyati.
Raññopi kho, bhikkhave, pasenadissa kosalassa attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Yāvatā, bhikkhave, candimasūriyā pariharanti disā bhanti virocamānā, tāva sahassadhā loko.
Tasmiṁ sahassadhā loke sahassaṁ candānaṁ sahassaṁ sūriyānaṁ sahassaṁ sinerupabbatarājānaṁ sahassaṁ jambudīpānaṁ sahassaṁ aparagoyānānaṁ sahassaṁ uttarakurūnaṁ sahassaṁ pubbavidehānaṁ cattāri mahāsamuddasahassāni cattāri mahārājasahassāni sahassaṁ cātumahārājikānaṁ sahassaṁ tāvatiṁsānaṁ sahassaṁ yāmānaṁ sahassaṁ tusitānaṁ sahassaṁ nimmānaratīnaṁ sahassaṁ paranimmitavasavattīnaṁ sahassaṁ brahmalokānaṁ.
Yāvatā, bhikkhave, sahassī lokadhātu, mahābrahmā tattha aggamakkhāyati.
Mahābrahmunopi kho, bhikkhave, attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Hoti so, bhikkhave, samayo yaṁ ayaṁ loko saṁvaṭṭati.
Saṁvaṭṭamāne, bhikkhave, loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā bhavanti.
Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhecarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
Saṁvaṭṭamāne, bhikkhave, loke ābhassarā devā aggamakkhāyanti.
Ābhassarānampi kho, bhikkhave, devānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Dasayimāni, bhikkhave, kasiṇāyatanāni.
Katamāni dasa?
Pathavīkasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ;
āpokasiṇameko sañjānāti …pe…
tejokasiṇameko sañjānāti …
vāyokasiṇameko sañjānāti …
nīlakasiṇameko sañjānāti …
pītakasiṇameko sañjānāti …
lohitakasiṇameko sañjānāti …
odātakasiṇameko sañjānāti …
ākāsakasiṇameko sañjānāti …
viññāṇakasiṇameko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, dasa kasiṇāyatanāni.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ dasannaṁ kasiṇāyatanānaṁ yadidaṁ viññāṇakasiṇaṁ eko sañjānāti uddhaṁ adho tiriyaṁ advayaṁ appamāṇaṁ.
Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Aṭṭhimāni, bhikkhave, abhibhāyatanāni.
Katamāni aṭṭha?
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ;
evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ;
evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ;
evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā, seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ;
evamevaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Imāni kho, bhikkhave, aṭṭha abhibhāyatanāni.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imesaṁ aṭṭhannaṁ abhibhāyatanānaṁ yadidaṁ ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni;
‘tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti, evaṁsaññī hoti.
Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Catasso imā, bhikkhave, paṭipadā.
Katamā catasso?
Dukkhā paṭipadā dandhābhiññā,
dukkhā paṭipadā khippābhiññā,
sukhā paṭipadā dandhābhiññā,
sukhā paṭipadā khippābhiññā—
imā kho, bhikkhave, catasso paṭipadā.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imāsaṁ catunnaṁ paṭipadānaṁ yadidaṁ sukhā paṭipadā khippābhiññā.
Evaṁpaṭipannāpi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁpaṭipannānampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Catasso imā, bhikkhave, saññā.
Katamā catasso?
Parittameko sañjānāti,
mahaggatameko sañjānāti,
appamāṇameko sañjānāti,
‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanameko sañjānāti—
imā kho, bhikkhave, catasso saññā.
Etadaggaṁ, bhikkhave, imāsaṁ catunnaṁ saññānaṁ yadidaṁ ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanameko sañjānāti.
Evaṁsaññinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁsaññīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Etadaggaṁ, bhikkhave, bāhirakānaṁ diṭṭhigatānaṁ yadidaṁ ‘no cassaṁ, no ca me siyā, na bhavissāmi, na me bhavissatī’ti.
Evaṁdiṭṭhino, bhikkhave, etaṁ pāṭikaṅkhaṁ:
‘yā cāyaṁ bhave appaṭikulyatā, sā cassa na bhavissati;
yā cāyaṁ bhavanirodhe pāṭikulyatā, sā cassa na bhavissatī’ti.
Evaṁdiṭṭhinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁdiṭṭhīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā paramatthavisuddhiṁ paññāpenti.
Etadaggaṁ, bhikkhave, paramatthavisuddhiṁ paññapentānaṁ yadidaṁ sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Te tadabhiññāya tassa sacchikiriyāya dhammaṁ desenti.
Evaṁvādinopi kho, bhikkhave, santi sattā.
Evaṁvādīnampi kho, bhikkhave, sattānaṁ attheva aññathattaṁ atthi vipariṇāmo.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako tasmimpi nibbindati.
Tasmiṁ nibbindanto agge virajjati, pageva hīnasmiṁ.
Santi, bhikkhave, eke samaṇabrāhmaṇā paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññāpenti.
Etadaggaṁ, bhikkhave, paramadiṭṭhadhammanibbānaṁ paññapentānaṁ yadidaṁ channaṁ phassāyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādā vimokkho.
Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhikkhave, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti:
‘samaṇo gotamo na kāmānaṁ pariññaṁ paññāpeti, na rūpānaṁ pariññaṁ paññāpeti, na vedanānaṁ pariññaṁ paññāpetī’ti.
Kāmānañcāhaṁ, bhikkhave, pariññaṁ paññāpemi, rūpānañca pariññaṁ paññāpemi, vedanānañca pariññaṁ paññāpemi, diṭṭheva dhamme nicchāto nibbuto sītibhūto anupādā parinibbānaṁ paññāpemī”ti.
Navamaṁ.