TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Hãy thọ trì như vậy. Thế nào là bảy?
TTC 3Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có giới, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì.
Thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì. Hãy thọ trì như vậy. Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiên Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
TTC 4Rồi một Tỷ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Hatthaka người Alavì; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Hatthaka người Alavì, đi đến Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:
—Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Thế nào là bảy? “Có lòng tin, này các Tỷ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì … có giữ giới … có lòng xấu hổ … có lòng sợ hãi … nghe nhiều … có bố thí … có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì “. Thưa Hiền giả, Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này như Thế Tôn đã nói.
—Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng?
—Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
—Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
TTC 5Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của Hatthaka, người xứ Alavì, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Hatthaka, người Alavì; sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, bạch Thế Tôn, rồi con nói với Hatthaka, người xứ Alavì đang ngồi một bên:—“—Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là bảy? “Có lòng tin, này các Tỷ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì … có giữ giới … có lòng xấu hổ … có lòng sợ hãi … nghe nhiều … có bố thí … có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì “. Hiền giả thành tựu bảy pháp này, thưa Hiền giả, như Thế Tôn đã nói! “. Khi nghe nói như vậy, bạch Thế Tôn, Hatthaka người xứ Alavì nói với con:
—“Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng? “
—Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
—Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
TTC 6—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, thiện nam tử này là ít dục. Vị ấy không muốn các thiện pháp của mình được người khác biết đến. Do vậy, này Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng, Hatthaka người xứ Alavì, có thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, tức là ít dục.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“sattahi, bhikkhave, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhāretha.
Katamehi sattahi?
Saddho hi, bhikkhave, hatthako āḷavako;
sīlavā, bhikkhave, hatthako āḷavako;
hirīmā, bhikkhave, hatthako āḷavako;
ottappī, bhikkhave, hatthako āḷavako;
bahussuto, bhikkhave, hatthako āḷavako;
cāgavā, bhikkhave, hatthako āḷavako;
paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavako—
imehi kho, bhikkhave, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhārethā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Atha kho aññataro bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena hatthakassa āḷavakassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho hatthako āḷavako yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho hatthakaṁ āḷavakaṁ so bhikkhu etadavoca:
“Sattahi kho tvaṁ, āvuso, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato.
Katamehi sattahi?
‘Saddho, bhikkhave, hatthako āḷavako;
sīlavā …pe…
hirīmā …
ottappī …
bahussuto …
cāgavā …
paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavako’ti.
Imehi kho tvaṁ, āvuso, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato”ti.
“Kaccittha, bhante, na koci gihī ahosi odātavasano”ti?
“Na hettha, āvuso, koci gihī ahosi odātavasano”ti.
“Sādhu, bhante, yadettha na koci gihī ahosi odātavasano”ti.
Atha kho so bhikkhu hatthakassa āḷavakassa nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho so bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena hatthakassa āḷavakassa nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ.
Atha kho, bhante, hatthako āḷavako yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhante, hatthakaṁ āḷavakaṁ etadavacaṁ:
‘sattahi kho tvaṁ, āvuso, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato.
Katamehi sattahi?
Saddho, bhikkhave, hatthako āḷavako;
sīlavā …pe…
hirīmā …
ottappī …
bahussuto …
cāgavā …
paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavakoti.
Imehi kho tvaṁ, āvuso, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato’ti.
Evaṁ vutte, bhante, hatthako maṁ etadavoca:
‘kaccittha, bhante, na koci gihī ahosi odātavasano’ti?
‘Na hettha, āvuso, koci gihī ahosi odātavasano’ti.
‘Sādhu, bhante, yadettha na koci gihī ahosi odātavasano’”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Appiccho so, bhikkhu, kulaputto.
Santeyeva attani kusaladhamme na icchati parehi ñāyamāne.
Tena hi tvaṁ, bhikkhu, imināpi aṭṭhamena acchariyena abbhutena dhammena samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhārehi, yadidaṁ appicchatāyā”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Āḷavī at the Aggāḷava Shrine. There the Blessed One addressed the bhikkhus…. an.iv.217
SC 2“Bhikkhus, you should remember Hatthaka of Āḷavī as one who possesses seven astounding and amazing qualities. What seven? (1) Hatthaka of Āḷavī is endowed with faith. (2) He is virtuous, and (3) has a sense of moral shame and (4) moral dread. (5) He is learned, (6) generous, and (7) wise. You should remember Hatthaka of Āḷavī as one who possesses these seven astounding and amazing qualities.” This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One rose from his seat and entered his dwelling.
SC 3Then, in the morning, a certain bhikkhu dressed, took his bowl and robe, and went to the residence of Hatthaka of Āḷavī. When he arrived, he sat down on the seat that was prepared for him. Then Hatthaka of Āḷavī approached the bhikkhu, paid homage to him, and sat down to one side. The bhikkhu then said to him:
SC 4“Friend, the Blessed One declared that you possess seven astounding and amazing qualities. What seven? ‘Bhikkhus, Hatthaka of Āḷavī is endowed with faith. He is virtuous and has a sense of moral shame and moral dread. He is learned, generous, and wise.’ The Blessed One declared that you possess these seven astounding and amazing qualities.”
SC 5“I hope, Bhante, that no white-robed layman was present?”
“No, friend. No white-robed layman was present.”
“That’s good, Bhante.”
SC 6Then that bhikkhu, having received almsfood at the residence of Hatthaka of Āḷavī, rose from his seat and departed. After his meal, on returning from his alms round, he approached the Blessed One, an.iv.218 paid homage to him, sat down to one side, and reported to him all that had happened.
SC 7The Blessed One said: “Good, good, bhikkhu! That clansman has few desires, since he does not want his inner wholesome qualities to be known by others. Therefore, bhikkhu, you should remember Hatthaka of Āḷavī as one who possesses this eighth astounding and amazing quality, that is, (8) fewness of desires.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Alavì, tại điện Phật Aggàlava. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
TTC 2—Này các Tỷ-kheo, Hatthaka, người xứ Alavì thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Hãy thọ trì như vậy. Thế nào là bảy?
TTC 3Có lòng tin, này các Tỷ kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có giới, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng xấu hổ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có lòng sợ hãi, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có bố thí, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì; có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì.
Thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka người xứ Alavì. Hãy thọ trì như vậy. Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Thiên Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh xá.
TTC 4Rồi một Tỷ-kheo đắp y vào buổi sáng, cầm bát y, đi đến trú xá của gia chủ Hatthaka người Alavì; sau khi đến, liền ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ Hatthaka người Alavì, đi đến Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo ấy rồi ngồi xuống một bên. Tỷ-kheo ấy nói với Hatthaka, người xứ Alavì, đang ngồi xuống một bên:
—Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có. Thế nào là bảy? “Có lòng tin, này các Tỷ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì … có giữ giới … có lòng xấu hổ … có lòng sợ hãi … nghe nhiều … có bố thí … có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì “. Thưa Hiền giả, Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này như Thế Tôn đã nói.
—Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng?
—Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
—Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
TTC 5Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi nhận đồ ăn khất thực tại trú xứ của Hatthaka, người xứ Alavì, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi Tỷ-kheo ấy, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ của Hatthaka, người Alavì; sau khi đến, con ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, bạch Thế Tôn, rồi con nói với Hatthaka, người xứ Alavì đang ngồi một bên:—“—Thưa Hiền giả, Thế Tôn đã nói Hiền giả thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này. Thế nào là bảy? “Có lòng tin, này các Tỷ-kheo là Hatthaka, người xứ Alavì … có giữ giới … có lòng xấu hổ … có lòng sợ hãi … nghe nhiều … có bố thí … có trí tuệ, này các Tỷ-kheo, là Hatthaka, người xứ Alavì “. Hiền giả thành tựu bảy pháp này, thưa Hiền giả, như Thế Tôn đã nói! “. Khi nghe nói như vậy, bạch Thế Tôn, Hatthaka người xứ Alavì nói với con:
—“Thưa Tôn giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng? “
—Thưa Hiền giả, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
—Lành thay, ở đây không có người gia chủ bận áo trắng.
TTC 6—Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, thiện nam tử này là ít dục. Vị ấy không muốn các thiện pháp của mình được người khác biết đến. Do vậy, này Tỷ-kheo, hãy thọ trì rằng, Hatthaka người xứ Alavì, có thành tựu bảy pháp vi diệu chưa từng có này, tức là ít dục.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“sattahi, bhikkhave, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhāretha.
Katamehi sattahi?
Saddho hi, bhikkhave, hatthako āḷavako;
sīlavā, bhikkhave, hatthako āḷavako;
hirīmā, bhikkhave, hatthako āḷavako;
ottappī, bhikkhave, hatthako āḷavako;
bahussuto, bhikkhave, hatthako āḷavako;
cāgavā, bhikkhave, hatthako āḷavako;
paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavako—
imehi kho, bhikkhave, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhārethā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato uṭṭhāyāsanā vihāraṁ pāvisi.
Atha kho aññataro bhikkhu pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena hatthakassa āḷavakassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho hatthako āḷavako yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ bhikkhuṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho hatthakaṁ āḷavakaṁ so bhikkhu etadavoca:
“Sattahi kho tvaṁ, āvuso, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato.
Katamehi sattahi?
‘Saddho, bhikkhave, hatthako āḷavako;
sīlavā …pe…
hirīmā …
ottappī …
bahussuto …
cāgavā …
paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavako’ti.
Imehi kho tvaṁ, āvuso, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato”ti.
“Kaccittha, bhante, na koci gihī ahosi odātavasano”ti?
“Na hettha, āvuso, koci gihī ahosi odātavasano”ti.
“Sādhu, bhante, yadettha na koci gihī ahosi odātavasano”ti.
Atha kho so bhikkhu hatthakassa āḷavakassa nivesane piṇḍapātaṁ gahetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho so bhikkhu pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṁ etadavoca:
“Idhāhaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena hatthakassa āḷavakassa nivesanaṁ tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdiṁ.
Atha kho, bhante, hatthako āḷavako yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhante, hatthakaṁ āḷavakaṁ etadavacaṁ:
‘sattahi kho tvaṁ, āvuso, acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato.
Katamehi sattahi?
Saddho, bhikkhave, hatthako āḷavako;
sīlavā …pe…
hirīmā …
ottappī …
bahussuto …
cāgavā …
paññavā, bhikkhave, hatthako āḷavakoti.
Imehi kho tvaṁ, āvuso, sattahi acchariyehi abbhutehi dhammehi samannāgato bhagavatā byākato’ti.
Evaṁ vutte, bhante, hatthako maṁ etadavoca:
‘kaccittha, bhante, na koci gihī ahosi odātavasano’ti?
‘Na hettha, āvuso, koci gihī ahosi odātavasano’ti.
‘Sādhu, bhante, yadettha na koci gihī ahosi odātavasano’”ti.
“Sādhu sādhu, bhikkhu.
Appiccho so, bhikkhu, kulaputto.
Santeyeva attani kusaladhamme na icchati parehi ñāyamāne.
Tena hi tvaṁ, bhikkhu, imināpi aṭṭhamena acchariyena abbhutena dhammena samannāgataṁ hatthakaṁ āḷavakaṁ dhārehi, yadidaṁ appicchatāyā”ti.
Tatiyaṁ.