—Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ. Thế nào là ba?
Tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh được sanh ra; đây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Lại nữa, tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ được làm lễ quán đảnh, đây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sau khi chiến thắng một trận, tại chỗ vị ấy chiếm như là cầm đầu trong cuộc chiến thắng; đây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba pháp này, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ. Thế nào là ba?
Tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa; xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; đây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, Tỷ-kheo như thật biết rõ: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”; đây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, môt Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; đây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
“Tīṇimāni, bhikkhave, rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti.
Katamāni tīṇi?
Yasmiṁ, bhikkhave, padese rājā khattiyo muddhāvasitto jāto hoti.
Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese rājā khattiyo muddhāvasitto hoti.
Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese rājā khattiyo muddhāvasitto saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati.
Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tīṇimāni bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti.
Katamāni tīṇi?
Yasmiṁ, bhikkhave, padese bhikkhu kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti.
Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavantī”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1“Bhikkhus, there are these three places that a head-anointed khattiya king should remember all his life. What three? (1) The first is the place where he was born. (2) The second is the place where he was head-anointed a khattiya king. (3) And the third is the place where, having triumphed in battle, he emerged victorious and settled at the head of the battlefield. These are the three places that a head-anointed khattiya king should remember all his life. an.i.107
SC 2“So too, bhikkhus, there are these three places that a bhikkhu should remember all his life. What three? (1) The first is the place where he shaved off his hair and beard, put on ochre robes, and went forth from the household life into homelessness. (2) The second is the place where he understood as it really is: ‘This is suffering,’ and ‘This is the origin of suffering,’ and ‘This is the cessation of suffering,’ and ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’ (3) And the third is the place where, with the destruction of the taints, he realized for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, dwelled in it. These are the three places that a bhikkhu should remember all his life.”
—Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ. Thế nào là ba?
Tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh được sanh ra; đây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Lại nữa, tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ được làm lễ quán đảnh, đây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh sau khi chiến thắng một trận, tại chỗ vị ấy chiếm như là cầm đầu trong cuộc chiến thắng; đây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh cần phải trọn đời ghi nhớ.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có ba pháp này, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ. Thế nào là ba?
Tại chỗ nào, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa; xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; đây là pháp thứ nhất, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, Tỷ-kheo như thật biết rõ: “Ðây là khổ”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ tập”, như thật rõ biết: “Ðây là khổ diệt”, như thật rõ biết: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”; đây là pháp thứ hai, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, tại chỗ nào, môt Tỷ-kheo, sau khi đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; đây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
Ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải trọn đời ghi nhớ.
“Tīṇimāni, bhikkhave, rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti.
Katamāni tīṇi?
Yasmiṁ, bhikkhave, padese rājā khattiyo muddhāvasitto jāto hoti.
Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese rājā khattiyo muddhāvasitto hoti.
Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese rājā khattiyo muddhāvasitto saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tameva saṅgāmasīsaṁ ajjhāvasati.
Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi rañño khattiyassa muddhāvasittassa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti.
Evamevaṁ kho, bhikkhave, tīṇimāni bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavanti.
Katamāni tīṇi?
Yasmiṁ, bhikkhave, padese bhikkhu kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti.
Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese bhikkhu ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Puna caparaṁ, bhikkhave, yasmiṁ padese bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyaṁ hoti.
Imāni kho, bhikkhave, tīṇi bhikkhussa yāvajīvaṁ sāraṇīyāni bhavantī”ti.
Dutiyaṁ.