TTC 1Rồi Tôn giả Mahàkotthita đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ trong tương lai”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong hiện tại”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ?”
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
-Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
-Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là không thuần thục”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là không thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là thuần thục”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
TTC 2—Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong tương lai?” Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả?” Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ hiện tại?” Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ thuần phục, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ là không thuần phục”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ không thuần phục, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ là thuần phục”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì mục đích gì sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn?
TTC 3—Thưa Hiền giả, với những gì không biết, không thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.
—Nhưng thưa Hiền giả, do không biết gì, không thấy gì, không đạt gì, không chứng ngộ gì, không hiện quán gì, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn?
—“Ðây là Khổ”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy… mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. “Ðây là Khổ tập”… “Ðây là Khổ diệt”… “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không được đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Thưa Hiền giả, đây là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ samparāyavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ samparāyavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ dukkhavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ dukkhavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ sukhavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ paripakkavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ appavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ appavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ bahuvedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ vedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ avedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ avedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ vedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ samparāyavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ samparāyavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ dukkhavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ dukkhavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ sukhavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ paripakkavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ taṁ me kammaṁ appavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ appavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ bahuvedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ vedanīyaṁ taṁ me kammaṁ avedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ avedanīyaṁ taṁ me kammaṁ vedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
Atha kimatthaṁ carahāvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Yaṁ khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ, tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatīti.
Kiṁ panassāvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ, yassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatīti?
‘Idaṁ dukkhan’ti khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ.
Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussati.
‘Ayaṁ dukkhasamudayo’ti khvassa, āvuso …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti khvassa, āvuso …pe…
‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ.
Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussati.
Idaṁ khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ.
Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
Tatiyaṁ.
Then Ven. Maha Kotthita went to Ven. Sariputta and exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, he said to Ven. Sariputta, “Is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced in the here-&-now be turned into an action [whose result] is to be experienced by me in a future life?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced in a future life be turned into an action [whose result] is to be experienced by me in the here-&-now?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced as pleasure be turned into an action [whose result] is to be experienced by me as pain?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced as pain be turned into an action [whose result] is to be experienced by me as pleasure?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced when fully ripened be turned into an action [whose result] is to be experienced by me when not fully ripened?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced when not fully ripened be turned into an action [whose result] is to be experienced by me when fully ripened?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced as a great deal be turned into an action [whose result] is to be experienced by me as next to nothing?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced as next to nothing be turned into an action [whose result] is to be experienced by me as a great deal?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is to be experienced be turned into an action [whose result] is not to be experienced by me?’”
“No, my friend.”
“Then is it the case, friend Sariputta, that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, ‘May an action [whose result] is not to be experienced be turned into an action [whose result] is to be experienced by me?’”
“No, my friend.”
“Now, friend Sariputta, when you are asked, ‘Is it the case that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, “May an action [whose result] is to be experienced in the here-&-now be turned into an action [whose result] is to be experienced by me in a future life?"’ you say, ‘No, my friend.’ When asked, ‘Is it the case that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose, “May an action [whose result] is to be experienced in a future life be turned into an action [whose results] is to be experienced by me in the here-&-now"… “May an action [whose result] is to be experienced as pleasure be turned into an action [whose result] is to be experienced by me as pain?"… “May an action [whose result] is to be experienced as pain be turned into an action [whose result] is to be experienced by me as pleasure?"… “May an action [whose result] is to be experienced when fully ripened be turned into an action [whose result] is to be experienced by me when not fully ripened?"… “May an action [whose result] is to be experienced when not fully ripened be turned into an action [whose result] is to be experienced by me when fully ripened?"… “May an action [whose result] is to be experienced as a great deal be turned into an action [whose result] is to be experienced by me as next to nothing?"… “May an action [whose result] is to be experienced as next to nothing be turned into an action [whose result] is to be experienced by me as a great deal?"… “May an action [whose result] is to be experienced be turned into an action [whose result] is not to be experienced by me?"… “May an action [whose result] is not to be experienced be turned into an action [whose result] is to be experienced by me?"’ you say, ‘No, my friend.’ So, then, with what purpose is the holy life lived under the Blessed One?”
“The holy life, my friend, is lived under the Blessed One with the purpose of knowing, seeing, attaining, realizing, & breaking through to what has been unknown, unseen, unattained, unrealized, and not broken through to.”
“And what, friend Sariputta, is the unknown, unseen, unattained, unrealized and not broken-through-to that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose of knowing, seeing, attaining, realizing, & breaking through to?”
“‘This is stress,’ my friend; ‘This is the origination of stress,’ my friend; ‘This is the cessation of stress,’ my friend; ‘This is the path of practice leading to the cessation of stress,’ my friend, is the unknown, unseen, unattained, unrealized and not broken-through-to that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose of knowing, seeing, attaining, realizing, & breaking through to. This is the unknown, unseen, unattained, unrealized and not broken-through-to that the holy life is lived under the Blessed One with the purpose of knowing, seeing, attaining, realizing, & breaking through to.”
TTC 1Rồi Tôn giả Mahàkotthita đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Sàriputta:
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ trong tương lai”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong hiện tại”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ?”
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
-Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
-Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là không thuần thục”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là không thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là thuần thục”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ”?
—Không phải vậy, thưa Hiền giả.
TTC 2—Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong tương lai?” Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả?” Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ hiện tại?” Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Thưa Hiền giả Sàriputta, vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ thuần phục, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ là không thuần phục”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ không thuần phục, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ là thuần phục”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì sao khi được hỏi: “Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ”?. Hiền giả trả lời: “Không phải vậy, thưa Hiền giả”. Vì mục đích gì sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn?
TTC 3—Thưa Hiền giả, với những gì không biết, không thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.
—Nhưng thưa Hiền giả, do không biết gì, không thấy gì, không đạt gì, không chứng ngộ gì, không hiện quán gì, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn?
—“Ðây là Khổ”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy… mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. “Ðây là Khổ tập”… “Ðây là Khổ diệt”… “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không được đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Thưa Hiền giả, đây là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ samparāyavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ samparāyavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ dukkhavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ dukkhavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ sukhavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ paripakkavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ appavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ appavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ bahuvedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ vedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ avedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ avedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ vedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ samparāyavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ samparāyavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ dukkhavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ dukkhavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ sukhavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ paripakkavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ taṁ me kammaṁ appavedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ appavedanīyaṁ taṁ me kammaṁ bahuvedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ vedanīyaṁ taṁ me kammaṁ avedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso sāriputta, yaṁ kammaṁ avedanīyaṁ taṁ me kammaṁ vedanīyaṁ hotūti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti, iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
Atha kimatthaṁ carahāvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Yaṁ khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ, tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatīti.
Kiṁ panassāvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ, yassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatīti?
‘Idaṁ dukkhan’ti khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ.
Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussati.
‘Ayaṁ dukkhasamudayo’ti khvassa, āvuso …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti khvassa, āvuso …pe…
‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ.
Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussati.
Idaṁ khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ.
Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
Tatiyaṁ.