TTC 1—Chỉ ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn thứ nhất, có Sa-môn thứ hai, có Sa-môn thứ ba, có Sa-môn thứ tư, còn ngoại đạo khác không có Sa-môn. Như vậy, này các Tỷ kheo, các Thầy chơn chánh rống tiếng rống con sư tử.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ nhất?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, người này là Sa-môn thứ nhất.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ hai?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Các Tỷ-kheo do đoạn diệt ba kiết sử, do làm cho nhẹ bớt tham và sân, là bậc Nhất Lai, còn đi lại thế giới này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ hai.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh tại đấy, chứng Niết-bàn, không phải trở lui từ thế giới ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ ba.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ tư?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, tự mình với thắng trí ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ tư.
Chỉ ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn thứ nhất, ở đây có Sa-môn thứ hai, ở đây có Sa-môn thứ ba, ở đây có Sa-môn thứ tư, còn ngoại đạo khác không có Sa-môn. Như vậy, này các Tỷ kheo là chơn chánh rống tiếng rống con sư tử này.
“‘Idheva, bhikkhave, paṭhamo samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo;
suññā parappavādā samaṇehi aññehī’ti—
evametaṁ, bhikkhave, sammā sīhanādaṁ nadatha.
Katamo ca, bhikkhave, paṭhamo samaṇo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo samaṇo.
Katamo ca, bhikkhave, dutiyo samaṇo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo samaṇo.
Katamo ca, bhikkhave, tatiyo samaṇo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo samaṇo.
Katamo ca, bhikkhave, catuttho samaṇo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho samaṇo.
‘Idheva, bhikkhave, paṭhamo samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo;
suññā parappavādā samaṇebhi aññehī’ti—
evametaṁ, bhikkhave, sammā sīhanādaṁ nadathā”ti.
Dasamaṁ.
“‘Only here is there a first ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, and here a fourth ascetic.
Other sects are empty of ascetics.’
This, mendicants, is how you should rightly roar your lion’s roar.
And who is the first ascetic?
It’s a mendicant who—with the ending of three fetters—is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
This is the first ascetic.
And who is the second ascetic?
It’s a mendicant who—with the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion—is a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering.
This is the second ascetic.
And who is the third ascetic?
It’s a mendicant who—with the ending of the five lower fetters—is reborn spontaneously. They’re extinguished there, and are not liable to return from that world.
This is the third ascetic.
And who is the fourth ascetic?
It’s a mendicant who realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.
This is the fourth ascetic.
‘Only here is there a first ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, and here a fourth ascetic.
Other sects are empty of ascetics.’
This, mendicants, is how you should rightly roar your lion’s roar.”
TTC 1—Chỉ ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn thứ nhất, có Sa-môn thứ hai, có Sa-môn thứ ba, có Sa-môn thứ tư, còn ngoại đạo khác không có Sa-môn. Như vậy, này các Tỷ kheo, các Thầy chơn chánh rống tiếng rống con sư tử.
TTC 2Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ nhất?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không bị rơi vào đọa xứ, chắc chắn hướng đến giác ngộ. Này các Tỷ-kheo, người này là Sa-môn thứ nhất.
TTC 3Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ hai?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Các Tỷ-kheo do đoạn diệt ba kiết sử, do làm cho nhẹ bớt tham và sân, là bậc Nhất Lai, còn đi lại thế giới này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ hai.
TTC 4Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ ba?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh tại đấy, chứng Niết-bàn, không phải trở lui từ thế giới ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ ba.
TTC 5Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Sa-môn thứ tư?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo do đoạn diệt các lậu hoặc, tự mình với thắng trí ngay trong hiện tại, chứng ngộ, chứng đạt và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo, đây là Sa-môn thứ tư.
Chỉ ở đây, này các Tỷ-kheo, có Sa-môn thứ nhất, ở đây có Sa-môn thứ hai, ở đây có Sa-môn thứ ba, ở đây có Sa-môn thứ tư, còn ngoại đạo khác không có Sa-môn. Như vậy, này các Tỷ kheo là chơn chánh rống tiếng rống con sư tử này.
“‘Idheva, bhikkhave, paṭhamo samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo;
suññā parappavādā samaṇehi aññehī’ti—
evametaṁ, bhikkhave, sammā sīhanādaṁ nadatha.
Katamo ca, bhikkhave, paṭhamo samaṇo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo samaṇo.
Katamo ca, bhikkhave, dutiyo samaṇo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyo samaṇo.
Katamo ca, bhikkhave, tatiyo samaṇo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyo samaṇo.
Katamo ca, bhikkhave, catuttho samaṇo?
Idha, bhikkhave, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ayaṁ, bhikkhave, catuttho samaṇo.
‘Idheva, bhikkhave, paṭhamo samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo;
suññā parappavādā samaṇebhi aññehī’ti—
evametaṁ, bhikkhave, sammā sīhanādaṁ nadathā”ti.
Dasamaṁ.