TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ở khu vườn ông Anàthàpindika. Bấy giờ có rất nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Sàvatthi để khất thực. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi vào Sàvatthi khất thực. Chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
TTC 2—Thưa các Hiền giả, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú.” Thưa các Hiền giả, chúng tôi cũng thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú” .Ở đây, này chư Hiền, có sự đặc thù gì, có sự thù thắng gì, có sự thù thắng gì, có sự sai biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, về thuyết pháp và thuyết pháp, hay về giáo giới và giáo giới?
TTC 3Rồi các Tỷ-kheo ấy, không hoan hỷ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy, cũng không phỉ báng, không hoan hỷ, không phỉ báng, các vị ấy đứng dậy và ra đi, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”. Rồi các Tỷ—kheo ấy, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
TTC 4—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Rồi chúng con suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để vào Sàvatthi khất thực, vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, chúng con nói với các du sĩ ngoại đạo những lời chào hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, chúng con ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi xuống một bên: “Thưa các Hiền giả, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú”. Thưa các Hiền giả, chúng tôi cũng thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này chư Hiền, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú”. Ở đây, này chư Hiền, có sự đặc thù gì, có sự sai biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi về thuyết pháp và thuyết pháp, hay về giáo giới và giáo giới? “ Rồi bạch Thế Tôn, chúng con không hoan hỷ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy, cũng không phỉ báng, không hoan hỷ, không phỉ báng, chúng con đứng dậy và ra đi, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này của Thế Tôn”.
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy cần phải được nói như sau: “Này chư Hiền, một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời; hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời; ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời; bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố; bốn câu trả lời; năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời; sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời; bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời; tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời; chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời”. Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo ấy, sẽ không thể trả lời, hơn nữa sẽ rơi vào bối rối. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì vấn đề ấy vượt ngoài địa hạt của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, với chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, với tâm thích thú trả lời những câu hỏi này, trừ Như Lai, hay những ai được từ hai vị này.
TTC 6Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong một pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong một pháp?
-—Tất cả chúng sanh đều tồn tại nhờ đồ ăn.
Trong một pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 7Hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong hai pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong hai pháp?
-—Trong danh và trong sắc.
Trong hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 8Ba câu hỏi, ba tuyên bố, ba câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong ba pháp?
-—Trong ba thọ.
Trong ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 9Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bốn pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bốn pháp?
-—Trong bốn đồ ăn.
Trong bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 10Năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong năm pháp?
-—Trong năm thủ uẩn.
Trong năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
TTC 11Sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong sáu pháp?
-—Trong sáu nội xứ.
Trong sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 12Bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bảy pháp?
-—Trong bảy thức trú.
Trong bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 13Tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong tám pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong tám pháp?
-—Trong tám thế gian pháp.
Trong tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 14Chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong chín pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau… Thế nào là trong chín pháp?
-—Chín hữu tình cư.
Trong chín pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
TTC 15Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong mười pháp này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh, nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là mười pháp?
-—Trong mười thiện nghiệp đạo.
Trong mười pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, được nói lên như vậy. Do duyên này, được nói đến như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisiṁsu.
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi:
“atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ;
yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā”ti.
Atha kho te bhikkhū yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti:
‘etha tumhe, bhikkhave, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathā’ti;
mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema:
‘etha tumhe, āvuso, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathā’ti.
Idha no, āvuso, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ anusāsaniyā vā anusāsanin”ti?
Atha kho te bhikkhū tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandiṁsu nappaṭikkosiṁsu.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu:
“bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā”ti.
Atha kho te bhikkhū sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Idha mayaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisimhā.
Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi:
‘atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ;
yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā’ti.
Atha kho mayaṁ, bhante, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamimhā; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodimhā.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdimhā. Ekamantaṁ nisinne kho, bhante, aññatitthiyā paribbājakā amhe etadavocuṁ:
‘Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti—
etha tumhe, bhikkhave, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathāti;
mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema—
etha tumhe, āvuso, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathāti.
Idha no, āvuso, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ anusāsaniyā vā anusāsanin’ti?
Atha kho mayaṁ, bhante, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandimhā nappaṭikkosimhā.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamimhā:
‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā’”ti.
“Evaṁvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘eko, āvuso, pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ, dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇāni, tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇāni, cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇāni, pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇāni, cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇāni, satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇāni, aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇāni, nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇāni, dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti.
Evaṁ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttari ca vighātaṁ āpajjissanti.
Taṁ kissa hetu?
Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmiṁ.
Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā ito vā pana sutvā.
‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Ekadhamme, bhikkhave, bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamasmiṁ ekadhamme?
‘Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā’—
imasmiṁ kho, bhikkhave, ekadhamme bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Dvīsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu dvīsu?
Nāme ca rūpe ca—
imesu kho, bhikkhave, dvīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tīsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu tīsu?
Tīsu vedanāsu—
imesu kho, bhikkhave, tīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Catūsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu catūsu?
Catūsu āhāresu—
imesu kho, bhikkhave, catūsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Pañcasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu pañcasu?
Pañcasu upādānakkhandhesu—
imesu kho, bhikkhave, pañcasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Chasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu chasu?
Chasu ajjhattikesu āyatanesu—
imesu kho, bhikkhave, chasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Sattasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu sattasu?
Sattasu viññāṇaṭṭhitīsu—
imesu kho, bhikkhave, sattasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Aṭṭhasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu aṭṭhasu?
Aṭṭhasu lokadhammesu—
imesu kho, bhikkhave, aṭṭhasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno …pe… dukkhassantakaro hoti.
‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Navasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu navasu?
Navasu sattāvāsesu—
imesu kho, bhikkhave, navasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Dasasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu dasasu?
Dasasu akusalesu kammapathesu—
imesu kho, bhikkhave, dasasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Sattamaṁ.
SC 1On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park. Then, in the morning, a number of bhikkhus dressed, took their bowls and robes, and entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to those bhikkhus: “It is still too early to walk for alms in Sāvatthī. Let us go to the park of the wanderers of other sects.”
SC 2Then those bhikkhus went to the park of the wanderers of other sects. They exchanged greetings with those wanderers and, when they had concluded their greetings and cordial talk, sat down to one side. Those wanderers then said to them:
SC 3“Friends, the ascetic Gotama teaches the Dhamma to his disciples in such a way as this: ‘Come, bhikkhus, directly know all phenomena. Dwell having directly known all phenomena.’ We too teach the Dhamma to our disciples in such a way as this: ‘Come, friends, directly know all phenomena. Dwell having directly known all phenomena.’ What now is the distinction, the disparity, the difference between the ascetic Gotama’s an.v.49 teaching of the Dhamma and our teaching, between his instruction and our instruction?”
SC 4Then those bhikkhus neither applauded nor rejected the statement of those wanderers. Without applauding it, without rejecting it, they rose from their seats and left, thinking: “We shall find out what the Blessed One has to say about this statement.”
SC 5Then, when those bhikkhus had walked for alms in Sāvatthī, after their meal, on returning from their alms round, they approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said: “Here, Bhante, in the morning, we dressed, took our bowls and robes, and entered Sāvatthī for alms…. They here report the entire course of events, down to: an.v.50 We rose from our seats and left, thinking: ‘We shall find out what the Blessed One has to say about this statement.’”
SC 6“Bhikkhus, when wanderers of other sects speak thus, they should be answered in this way: ‘A question about one, a concise statement about one, an explanation of one. A question about two, a concise statement about two, an explanation of two. A question about three, a concise statement about three, an explanation of three. A question about four, a concise statement about four, an explanation of four. A question about five, a concise statement about five, an explanation of five. A question about six, a concise statement about six, an explanation of six. A question about seven, a concise statement about seven, an explanation of seven. A question about eight, a concise statement about eight, an explanation of eight. A question about nine, a concise statement about nine, an explanation of nine. A question about ten, a concise statement about ten, an explanation of ten. If wanderers of other sects were questioned thus, they would not be able to reply and, further, they would meet with distress. For what reason? Because that would not be within their domain. I do not see anyone, bhikkhus, in the world with its devas, Māra, and Brahmā, in this population with its ascetics and brahmins, its devas and humans, who could satisfy the mind with an answer to these questions apart from the Tathāgata or a disciple of the Tathāgata or one who has heard it from them.
SC 7(1) “When it was said: ‘A question about one, a concise statement about one, an explanation of one,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with one thing, completely dispassionate toward it, completely liberated from it, completely sees its delimitations, and completely breaks through its meaning, in this very life he makes an end of suffering. What one thing? All beings exist through nutriment. an.v.51 When a bhikkhu is completely disenchanted with this one thing, completely dispassionate toward it, completely liberated from it, completely sees its delimitations, and completely breaks through its meaning, in this very life he makes an end of suffering.
SC 8“When it was said: ‘A question about one, a concise statement about one, an explanation of one,’ it is with reference to this that this was said.
SC 9(2) “When it was said: ‘A question about two, a concise statement about two, an explanation of two,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with two things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What two things? Name and form. When a bhikkhu is completely disenchanted with these two things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 10“When it was said: ‘A question about two, a concise statement about two, an explanation of two,’ it is with reference to this that this was said.
SC 11(3) “When it was said: ‘A question about three, a concise statement about three, an explanation of three,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with three things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What three things? The three kinds of feelings. When a bhikkhu is completely disenchanted with these three things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 12“When it was said: ‘A question about three, a concise statement about three, an explanation of three,’ it is with reference to this that this was said.
SC 13(4) “When it was said: ‘A question about four, a concise statement about four, an explanation of four,’ with reference to what was this said? an.v.52 When a bhikkhu is completely disenchanted with four things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What four things? The four kinds of nutriment. When a bhikkhu is completely disenchanted with these four things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 14“When it was said: ‘A question about four, a concise statement about four, an explanation of four,’ it is with reference to this that this was said.
SC 15(5) “When it was said: ‘A question about five, a concise statement about five, an explanation of five,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with five things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What five things? The five aggregates subject to clinging. When a bhikkhu is completely disenchanted with these five things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 16“When it was said: ‘A question about five, a concise statement about five, an explanation of five,’ it is with reference to this that this was said.
SC 17(6) “When it was said: ‘A question about six, a concise statement about six, an explanation of six,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with six things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What six things? The six internal sense bases. When a bhikkhu is completely disenchanted with these six things … in this very life he makes an end of suffering. an.v.53
SC 18“When it was said: ‘A question about six, a concise statement about six, an explanation of six,’ it is with reference to this that this was said.
SC 19(7) “When it was said: ‘A question about seven, a concise statement about seven, an explanation of seven,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with seven things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What seven things? The seven stations for consciousness. When a bhikkhu is completely disenchanted with these seven things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 20“When it was said: ‘A question about seven, a concise statement about seven, an explanation of seven,’ it is with reference to this that this was said.
SC 21(8) “When it was said: ‘A question about eight, a concise statement about eight, an explanation of eight,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with eight things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What eight things? The eight worldly conditions. When a bhikkhu is completely disenchanted with these eight things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 22“When it was said: ‘A question about eight, a concise statement about eight, an explanation of eight,’ it is with reference to this that this was said.
SC 23(9) “When it was said: ‘A question about nine, a concise statement about nine, an explanation of nine,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with nine things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What nine things? The nine abodes of beings. an.v.54 When a bhikkhu is completely disenchanted with these nine things … in this very life he makes an end of suffering.
SC 24“When it was said: ‘A question about nine, a concise statement about nine, an explanation of nine,’ it is with reference to this that this was said.
SC 25(10) “When it was said: ‘A question about ten, a concise statement about ten, an explanation of ten,’ with reference to what was this said? When a bhikkhu is completely disenchanted with ten things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering. What ten things? The ten unwholesome courses of kamma. When a bhikkhu is completely disenchanted with these ten things, completely dispassionate toward them, completely liberated from them, completely sees their delimitations, and completely breaks through their meaning, in this very life he makes an end of suffering.
SC 26“When it was said: ‘A question about ten, a concise statement about ten, an explanation of ten,’ it is with reference to this that this was said.”
TTC 1Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ở khu vườn ông Anàthàpindika. Bấy giờ có rất nhiều Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Sàvatthi để khất thực. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi vào Sàvatthi khất thực. Chúng ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”. Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo; sau khi đến, nói lên với những du sĩ ngoại đạo ấy những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Các du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên:
TTC 2—Thưa các Hiền giả, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú.” Thưa các Hiền giả, chúng tôi cũng thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú” .Ở đây, này chư Hiền, có sự đặc thù gì, có sự thù thắng gì, có sự thù thắng gì, có sự sai biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi, về thuyết pháp và thuyết pháp, hay về giáo giới và giáo giới?
TTC 3Rồi các Tỷ-kheo ấy, không hoan hỷ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy, cũng không phỉ báng, không hoan hỷ, không phỉ báng, các vị ấy đứng dậy và ra đi, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”. Rồi các Tỷ—kheo ấy, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
TTC 4—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực. Rồi chúng con suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để vào Sàvatthi khất thực, vậy chúng ta hãy đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo”. Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo, sau khi đến, chúng con nói với các du sĩ ngoại đạo những lời chào hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, chúng con ngồi xuống một bên. Bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi xuống một bên: “Thưa các Hiền giả, Sa-môn Gotama thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú”. Thưa các Hiền giả, chúng tôi cũng thuyết pháp như sau cho các đệ tử: “Hãy đến, này chư Hiền, hãy thắng tri tất cả pháp; sau khi thắng tri, thắng tri tất cả pháp, hãy an trú”. Ở đây, này chư Hiền, có sự đặc thù gì, có sự sai biệt gì giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi về thuyết pháp và thuyết pháp, hay về giáo giới và giáo giới? “ Rồi bạch Thế Tôn, chúng con không hoan hỷ lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy, cũng không phỉ báng, không hoan hỷ, không phỉ báng, chúng con đứng dậy và ra đi, nghĩ rằng: “Chúng ta sẽ hiểu ý nghĩa của lời nói này của Thế Tôn”.
TTC 5—Này các Tỷ-kheo, được nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy cần phải được nói như sau: “Này chư Hiền, một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời; hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời; ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời; bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố; bốn câu trả lời; năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời; sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời; bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời; tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời; chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời”. Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các du sĩ ngoại đạo ấy, sẽ không thể trả lời, hơn nữa sẽ rơi vào bối rối. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì vấn đề ấy vượt ngoài địa hạt của họ. Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, với chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, với tâm thích thú trả lời những câu hỏi này, trừ Như Lai, hay những ai được từ hai vị này.
TTC 6Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong một pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong một pháp?
-—Tất cả chúng sanh đều tồn tại nhờ đồ ăn.
Trong một pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 7Hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong hai pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong hai pháp?
-—Trong danh và trong sắc.
Trong hai pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 8Ba câu hỏi, ba tuyên bố, ba câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong ba pháp?
-—Trong ba thọ.
Trong ba pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 9Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bốn pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bốn pháp?
-—Trong bốn đồ ăn.
Trong bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 10Năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong năm pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong năm pháp?
-—Trong năm thủ uẩn.
Trong năm pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
TTC 11Sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong sáu pháp?
-—Trong sáu nội xứ.
Trong sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 12Bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bảy pháp?
-—Trong bảy thức trú.
Trong bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 13Tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong tám pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong tám pháp?
-—Trong tám thế gian pháp.
Trong tám pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
Tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên này được nói đến như vậy.
TTC 14Chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời, được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong chín pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau… Thế nào là trong chín pháp?
-—Chín hữu tình cư.
Trong chín pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán… là người chấm dứt khổ đau.
TTC 15Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến như vậy?
Trong mười pháp này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh, nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là mười pháp?
-—Trong mười thiện nghiệp đạo.
Trong mười pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh nhàm chán, chơn chánh ly tham, chơn chánh giải thoát, chơn chánh thấy được sự cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri ý nghĩa, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, được nói lên như vậy. Do duyên này, được nói đến như vậy.
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Atha kho sambahulā bhikkhū pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisiṁsu.
Atha kho tesaṁ bhikkhūnaṁ etadahosi:
“atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ;
yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā”ti.
Atha kho te bhikkhū yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodiṁsu.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū te aññatitthiyā paribbājakā etadavocuṁ:
“Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti:
‘etha tumhe, bhikkhave, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathā’ti;
mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema:
‘etha tumhe, āvuso, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathā’ti.
Idha no, āvuso, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ anusāsaniyā vā anusāsanin”ti?
Atha kho te bhikkhū tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandiṁsu nappaṭikkosiṁsu.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁsu:
“bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā”ti.
Atha kho te bhikkhū sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkantā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Idha mayaṁ, bhante, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pavisimhā.
Tesaṁ no, bhante, amhākaṁ etadahosi:
‘atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ;
yannūna mayaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyāmā’ti.
Atha kho mayaṁ, bhante, yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkamimhā; upasaṅkamitvā tehi aññatitthiyehi paribbājakehi saddhiṁ sammodimhā.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdimhā. Ekamantaṁ nisinne kho, bhante, aññatitthiyā paribbājakā amhe etadavocuṁ:
‘Samaṇo, āvuso, gotamo sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ deseti—
etha tumhe, bhikkhave, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathāti;
mayampi kho, āvuso, sāvakānaṁ evaṁ dhammaṁ desema—
etha tumhe, āvuso, sabbaṁ dhammaṁ abhijānātha, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya viharathāti.
Idha no, āvuso, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ samaṇassa vā gotamassa amhākaṁ vā, yadidaṁ dhammadesanāya vā dhammadesanaṁ anusāsaniyā vā anusāsanin’ti?
Atha kho mayaṁ, bhante, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandimhā nappaṭikkosimhā.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamimhā:
‘bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmā’”ti.
“Evaṁvādino, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
‘eko, āvuso, pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇaṁ, dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇāni, tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇāni, cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇāni, pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇāni, cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇāni, satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇāni, aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇāni, nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇāni, dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti.
Evaṁ puṭṭhā, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā na ceva sampāyissanti, uttari ca vighātaṁ āpajjissanti.
Taṁ kissa hetu?
Yathā taṁ, bhikkhave, avisayasmiṁ.
Nāhaṁ taṁ, bhikkhave, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya, aññatra tathāgatena vā tathāgatasāvakena vā ito vā pana sutvā.
‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Ekadhamme, bhikkhave, bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamasmiṁ ekadhamme?
‘Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā’—
imasmiṁ kho, bhikkhave, ekadhamme bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Eko pañho eko uddeso ekaṁ veyyākaraṇan’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Dvīsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu dvīsu?
Nāme ca rūpe ca—
imesu kho, bhikkhave, dvīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Dve pañhā dve uddesā dve veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Tīsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu tīsu?
Tīsu vedanāsu—
imesu kho, bhikkhave, tīsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Tayo pañhā tayo uddesā tīṇi veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Catūsu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu catūsu?
Catūsu āhāresu—
imesu kho, bhikkhave, catūsu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Cattāro pañhā cattāro uddesā cattāri veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Pañcasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu pañcasu?
Pañcasu upādānakkhandhesu—
imesu kho, bhikkhave, pañcasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Pañca pañhā pañcuddesā pañca veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Chasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu chasu?
Chasu ajjhattikesu āyatanesu—
imesu kho, bhikkhave, chasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Cha pañhā cha uddesā cha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Sattasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu sattasu?
Sattasu viññāṇaṭṭhitīsu—
imesu kho, bhikkhave, sattasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Satta pañhā sattuddesā satta veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Aṭṭhasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu aṭṭhasu?
Aṭṭhasu lokadhammesu—
imesu kho, bhikkhave, aṭṭhasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno …pe… dukkhassantakaro hoti.
‘Aṭṭha pañhā aṭṭhuddesā aṭṭha veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti kho panetaṁ vuttaṁ.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Navasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu navasu?
Navasu sattāvāsesu—
imesu kho, bhikkhave, navasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Nava pañhā navuddesā nava veyyākaraṇānī’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti,
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Dasasu, bhikkhave, dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
Katamesu dasasu?
Dasasu akusalesu kammapathesu—
imesu kho, bhikkhave, dasasu dhammesu bhikkhu sammā nibbindamāno sammā virajjamāno sammā vimuccamāno sammā pariyantadassāvī sammadatthaṁ abhisamecca diṭṭheva dhamme dukkhassantakaro hoti.
‘Dasa pañhā dasuddesā dasa veyyākaraṇānī’ti,
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Sattamaṁ.